Bài 4: Cái giá của sự thật!
(Series viết về John Henry Newman · Tiến sĩ Hội Thánh thứ 38)
Có một thứ tệ hơn bị kẻ thù công kích.
Đó là bị người bạn thân nhất im lặng.
Không phải im lặng vì không biết nói gì. Mà im lặng có chủ ý, loại im lặng mà cả hai phía đều biết ý nghĩa của nó, nhưng không ai nói ra thành lời. Loại im lặng chỉ có thể xảy ra giữa hai người từng hiểu nhau rất rõ.
Sau đêm tháng 10 năm 1845 tại Littlemore, tin tức lan ra. Và John Newman, người vừa bước vào Giáo hội Công giáo sau 28 năm là linh mục Anh giáo, bắt đầu nhận được phản ứng từ khắp nơi.
Phản ứng từ kẻ thù thì ông đã đoán trước. Nhưng phản ứng từ những người ông yêu quý nhất, điều đó ông không có cách nào chuẩn bị cho đủ.
Trong số tất cả những bức thư Newman nhận được, và không nhận được, sau khi tin tức cải đạo lan ra, có một bức đến từ người bạn thân nhất ông: John Keble.
Bức thư đó không có trong bất kỳ tuyển tập thư từ nào.
Vì nó không tồn tại. Keble không viết.
Để hiểu điều đó nặng nề như thế nào, bạn cần nhớ lại Keble là ai với Newman: người bạn từ thời Oxford những năm 1820s, người đã đứng cạnh ông khi xây dựng Phong trào Oxford, người mà Newman viết thư gần như mỗi tuần trong suốt hơn hai mươi năm, về thần học, về cuộc sống, về những câu hỏi ông không biết hỏi ai khác. Nếu đặt vào ngôn ngữ hôm nay, Keble là người bạn thân nhất mà bạn đã share mọi thứ, kể cả những thứ bạn chưa dám nói với gia đình.
Và người đó chọn im lặng. Không một dòng. Trong suốt nhiều năm, cho đến khi Keble qua đời năm 1866, hai người gần như không trao đổi thư từ.
Newman chỉ nhắc đến điều đó một lần, trong thư gửi một người bạn khác năm 1850:
"Sự im lặng của Keble là vết thương tôi không biết cách mô tả."
Rồi không nhắc nữa. Không than vãn. Không giải thích. Chỉ một câu, rồi im.
Đó là cách Newman xử lý những thứ đau nhất: không nói nhiều, nhưng không giả vờ là không đau.
Người bạn còn lại, Edward Pusey, không im lặng...
Pusey, giáo sư Oxford, người đã sát cánh với Newman trong Phong trào từ đầu, đã không theo Newman sang Công giáo. Ông ở lại Anh giáo cho đến cuối đời, tiếp tục lãnh đạo phong trào theo hướng riêng của mình (sau này được gọi là Phong trào Tractarian hay Anglo-Catholicism).
Điều Pusey nói về Newman, theo ghi chép của nhiều nhân chứng thời đó, là: Newman cải đạo vì "quá nhạy cảm về mặt cảm xúc", không phải vì thần học. Vì tính khí, không phải vì lý trí.
Một sử gia Anh thế kỷ 20, khi đọc lại những ghi chép đó, nhận xét ngắn gọn: "Pusey biết điều đó là sai. Nhưng ông cần tin vào điều đó."
Đó là một trong những sự thật phũ phàng nhất về cách con người xử lý việc bị bạn bè rời đi: đôi khi, cách dễ nhất để sống tiếp là tự thuyết phục bản thân rằng người kia đã sai vì một lý do ngoài lý trí, để không phải đối mặt với khả năng họ đã sai vì lý trí của chính họ chỉ ra điều khác.
Newman biết điều đó. Nhưng ông không tranh luận với Pusey công khai. Không bao giờ.
Nếu chuyện trong vòng bạn bè đã đau, thì ngoài xã hội còn tệ hơn.
Tờ Times of London năm 1850 chạy bài xã luận nói Newman là bằng chứng cho thấy "sự cải đạo sang Roma là hậu quả của sự yếu đuối trí tuệ." Nhiều người quen cũ băng qua đường để tránh phải chào khi gặp ông trên phố. Gia đình ông, vốn đã xa cách từ khi ông gia nhập Công giáo, gần như cắt đứt liên hệ hoàn toàn.
Em gái ông, người từng gần gũi nhất với ông, viết cho ông một lá thư năm 1846 nói rằng bà không hiểu được ông nữa và không cố gắng hiểu nữa.
Newman đọc lá thư đó rồi cất đi. Ông không trả lời.
Bạn có thể tưởng tượng người đó: một người đàn ông 45 tuổi, vừa từ bỏ tất cả những gì ông xây dựng trong hai mươi năm, ngồi một mình với một lá thư từ người thân, và chọn cách đặt nó xuống, không nói gì, rồi tiếp tục sống.
Không phải vì ông không đau. Mà vì ông đã quyết định rằng có những thứ quan trọng hơn việc được hiểu.
Nhưng cái giá nặng nhất, điều Newman không ngờ tới, đến từ bên trong chính Giáo hội Công giáo mà ông vừa gia nhập.
Để hiểu điều này, bạn cần biết một nhân vật: Henry Edward Manning.
Manning gia nhập Công giáo năm 1851, sáu năm sau Newman. Nhưng khác với Newman, ông leo lên rất nhanh trong hệ thống phẩm trật Công giáo tại Anh: năm 1865 trở thành Tổng Giám mục Westminster, đứng đầu toàn bộ Công giáo tại Anh, năm 1875 được phong Hồng y. Ông có quan hệ thân tín trực tiếp với Roma, được Đức Giáo hoàng Piô IX tin tưởng gần như tuyệt đối.
Và ông không tin Newman.
Không phải vì bằng chứng. Mà vì khí chất.
Manning là người tin rằng đức tin không cần câu hỏi, chỉ cần vâng phục. Với ông, một người Công giáo tốt là người làm theo những gì Giáo hội chỉ dạy, không đặt câu hỏi thêm. Trật tự, thẩm quyền, phục tùng, đó là những giá trị ông xây toàn bộ tư tưởng của mình trên đó.
Newman là người tin rằng câu hỏi là đức tin. Rằng không có đức tin thật sự nào mà không đi qua lương tâm, qua sự tìm kiếm thật sự, qua nghi ngờ thật sự, qua kết luận mà chính mình đi đến chứ không ai ép buộc.
Hai quan điểm đó không thể tìm thấy điểm chung.
Trong nhiều năm, Manning âm thầm báo cáo về Roma rằng Newman là "tiêu biểu cho Công giáo tự do nguy hiểm." Kế hoạch Newman muốn thành lập nhà Oratoire tại Oxford để phục vụ sinh viên Công giáo, điều ông coi là sứ mạng quan trọng nhất của mình, bị bác bỏ liên tục. Không có lý do chính thức. Nhưng những người trong cuộc biết bàn tay ai đứng sau.
Monsignor George Talbot, quan chức Vatican thân tín của Manning, viết thư riêng năm 1867, bức thư sau này được tìm thấy trong lưu trữ Vatican và trích dẫn bởi sử gia Sheridan Gilley:
"Newman là người nguy hiểm nhất ở Anh… Chỗ của ông là ở Oxford, không phải trong Giáo hội Công giáo."
Newman không biết về bức thư đó khi còn sống. Nhưng ông cảm nhận được hướng gió.
Có một câu chuyện nhỏ mà những người ở Birmingham kể lại, không rõ năm cụ thể, chỉ biết là trong những năm dài ông sống lặng lẽ tại cộng đoàn Oratoire nhỏ của mình.
Một buổi tối, một giáo dân trẻ gặp Newman trên đường và hỏi thẳng: "Thưa cha, cha có thấy bất công không?"
Newman dừng lại. Nhìn người trẻ đó. Rồi trả lời: "Thiên Chúa biết. Thế là đủ."
Và tiếp tục đi.
Không phải câu trả lời của người đã hết đau. Mà là câu trả lời của người đã quyết định rằng mình sẽ không để nỗi đau đó định nghĩa mình.
Ông bị kẻ thù công kích. Ông bị người bạn thân nhất im lặng. Ông bị chính Giáo hội mà ông đã đánh đổi tất cả để gia nhập nghi ngờ và cô lập. Ông bị gia đình từ chối. Ông bị dư luận kết án.
Và trong tất cả những năm đó, ông ngồi xuống và viết.
Những cuốn sách mà Giáo hội sẽ cần đến một trăm năm sau khi ông qua đời.
(Còn tiếp...)
-John Phạm-
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét