Tập 6: Regula Pastoralis – Ngày sống sau cửa mục tử
(Series viết về Grêgôriô Cả · Tiến sĩ Hội Thánh thứ 1)
(Bài này sẽ hơi dài, mọi người đọc từ từ nhé)
....
Ở tập trước, ta còn đứng ngoài cửa.
Ta gặp những khuôn mặt đứng nơi ngưỡng mục tử: người muốn bước lên quá sớm, người có thể bước lên mà lại cứ trốn, người có tài nhưng lòng không ngay, người chưa đi nổi đời mình mà đã muốn dẫn người khác. Cả phần đầu của Regula Pastoralis giống như một người gác cổng đứng ngay lối vào và hỏi từng người một: anh có thật sự nên bước vào đây không?
Nhưng rồi vẫn có những người bước vào.
Không còn đứng ngoài nữa. Không còn phân vân nữa. Không còn chỉ nói “để xem đã” nữa. Họ đã lỡ nói tiếng “vâng”.
Từ ngày đó, đời họ đổi màu.
Có thể họ là một cha phó mới về giáo xứ, còn chưa quen hết tên các giáo họ. Có thể là một sơ trẻ được giao coi nhà lưu xá, đi qua dãy hành lang mỗi tối với tiếng dép nhẹ và một chùm chìa khóa lách cách trong tay. Có thể là một huynh trưởng Thiếu Nhi Thánh Thể vừa được giao phụ trách ngành, từ nay không còn chỉ là anh chị sinh hoạt cho vui, nhưng là người phải đứng ra khi một em khóc, một em lì, một em bỏ lễ, một em sống rối. Có thể là một giáo lý viên, một người đồng hành, một người mà từ một ngày nào đó, người khác bắt đầu tìm đến không chỉ để nhờ làm việc, nhưng để xin một lời, xin một hướng, xin một điểm tựa.
Chính ở đây, Grêgôriô mở sang phần hai của cuốn sách.
Ngài không còn hỏi ai nên bước vào nữa. Ngài hỏi điều khó hơn nhiều: đã vào rồi thì sống thế nào? Sống thế nào để không làm hỏng linh hồn mình. Sống thế nào để không làm hỏng linh hồn người khác. Sống thế nào để người được gọi là mục tử không chỉ mang một chức danh thánh, nhưng thật sự có một đời sống khác với đoàn chiên mình đang dẫn dắt.
Phần này đẹp, vì nó không mơ hồ.
Nó không vẽ người mục tử như một pho tượng trên bàn thờ. Nó đặt người ấy trở lại giữa những gì rất thật: một buổi sáng còn ngái ngủ, một giờ kinh dễ chia trí, một cuộc họp hội đồng mục vụ kéo dài, một em thiếu nhi cứng đầu, một gia đình xin gặp gấp, một tin nhắn đến lúc đêm khuya, một cơn mệt khiến người ta chỉ muốn im luôn với Chúa. Và Grêgôriô nói: chính ở những nơi rất nhỏ, rất thường, rất ít ai thấy ấy, người mục tử hoặc được thành hình, hoặc bắt đầu rạn nứt.
Nói cách khác, nếu tập trước hỏi: ai được bước qua cửa mục tử, thì tập này hỏi: khi đã chạm vào linh hồn người khác, làm sao để không đánh mất linh hồn mình?
Để dễ hình dung những gì Grêgôriô chỉ dạy, chúng ta cùng mô tả qua một ngày sống của người mục tử nhé.
Bắt đầu nào...
Một ngày của người mục tử thường bắt đầu trong im lặng.
Tiếng chuông báo thức vang lên. Ngoài sân, trời còn chưa sáng hẳn. Ở nhà xứ, có thể là tiếng chổi quét nhẹ ngoài hiên, tiếng mở cổng sắt, tiếng vài giáo dân đi lễ sớm nói chuyện khẽ khàng. Ở nhà dòng, có thể là tiếng chân người đi qua hành lang, tiếng ghế kéo rất nhỏ, tiếng chuông báo giờ nguyện gẫm. Mọi thứ còn mờ. Và cũng chính lúc ấy, cuộc chiến đầu tiên trong ngày đã bắt đầu.
Nó không ồn ào.
Chỉ là một cái với tay. Một cái nhìn vào điện thoại. Một ý nghĩ “xem tin nhắn chút thôi”. Một phản xạ mở Messenger, Zalo, nhóm ban hành giáo, nhóm huynh trưởng, nhóm giáo lý viên, nhóm ca đoàn, nhóm việc xây dựng, nhóm phụ huynh. Chưa kịp cầu nguyện, người ta đã bước vào đám đông. Chưa kịp đứng trước mặt Chúa, người ta đã ngồi trước những đòi hỏi của người khác.
Grêgôriô hiểu rất rõ khoảnh khắc ấy, dù thời ngài không có màn hình.
Ngài nói người mục tử phải trong sạch trong ý nghĩ, vì bàn tay muốn lau vết bẩn nơi linh hồn người khác thì chính nó phải sạch trước. Ngài nhắc lời ngôn sứ: “Hãy nên thanh sạch, hỡi những kẻ mang đồ của Đức Chúa.” Đó là một câu rất đẹp, nhưng cũng rất gắt. Vì nó nói thẳng rằng: từ lúc anh mang trên vai những điều thuộc về Chúa, anh không còn được quyền sống cẩu thả trong đời sống của mình nữa.
Điều này không chỉ liên quan đến những sa ngã lớn.
Nó liên quan tới những buổi sáng lỏng đi. Tới một cha vẫn đọc giờ kinh, nhưng lòng đã bị kéo nát bởi mười mấy chuyện chưa giải quyết. Tới một sơ vẫn có mặt trong nhà nguyện, nhưng đầu óc còn mắc nơi một câu nói khó nghe tối qua. Tới một huynh trưởng vẫn lên sân sinh hoạt rất sung, nhưng trong lòng đã nhiều ngày không còn một khoảng im đủ sạch để Chúa nói được điều gì. Người ta không ngã khỏi đời mục tử chỉ vì những cú trượt lớn. Nhiều khi người ta rời xa nó bằng những bước rất nhỏ, lặp đi lặp lại, mỗi sáng một chút.
Bởi thế, Grêgôriô nói tới tấm bảng đeo trên ngực Aaron. Ngài muốn trái tim người mục tử được ràng lại, không thả cho ý nghĩ đi lang thang như tóc gió, nhưng giữ được sự phân định, sự tỉnh, sự sáng. Một người không giữ được trái tim mình trước khi ra khỏi phòng sẽ rất khó giữ được nó khi đã ở giữa trăm thứ âm thanh của ngày sống.
Và đây là điều đáng sợ hơn: trước khi nhận một vai trò trong Hội Thánh, người ta còn có thể nghĩ đời sống cầu nguyện là chuyện riêng giữa mình với Chúa. Nhưng một khi đã lỡ nói “vâng”, nó không còn hoàn toàn là chuyện riêng nữa. Từ lúc đó, sự trung tín hay bê trễ của anh bắt đầu chảy sang người khác. Một giờ cầu nguyện bị bỏ qua không chỉ làm nghèo anh; đôi khi nó còn làm một người khác đói mà anh không hề biết.
Rồi cánh cửa mở ra.
Người mục tử bước ra khỏi phòng mình và đi vào ngày sống. Có thể là đi xuống nhà thờ dâng lễ sáng. Có thể là ngồi ở bàn ăn với cộng đoàn. Có thể là đón một phụ huynh đang chờ ngoài cổng trường. Có thể là ra sân giáo lý, nơi mấy em TNTT đang chạy, cười, la, tranh nhau trái bóng từ rất sớm. Từ giây phút ấy, đời sống mục tử không còn nằm chủ yếu ở những gì anh nghĩ trong đầu nữa. Nó bắt đầu lộ ra ở dáng đi, ở cách chào, ở ánh mắt, ở giọng nói, ở cách chọn điều gì quan trọng hơn điều gì.
Grêgôriô nói người mục tử phải đi đầu trong hành động.
Không phải chỉ vì bổn phận. Mà vì đoàn chiên học bằng mắt trước khi học bằng tai. Người ta không chỉ nghe một cha giảng về bác ái; người ta nhìn xem cha ấy cư xử với người nghèo ra sao khi không còn ai đứng đó để chụp hình. Người ta không chỉ nghe một sơ nói về hiền lành; người ta nhìn xem sơ ấy trả lời người làm phiền mình thế nào vào lúc mệt nhất trong ngày. Các em thiếu nhi không chỉ nghe huynh trưởng nói về kỷ luật; các em nhìn xem anh chị ấy có tới sớm không, có làm gương không, có bỏ phần dọn dẹp cho người khác không.
Đó là lý do Grêgôriô nói: người phải rao giảng những điều cao thì bị chính chức vụ của mình buộc phải sống cao. Ngài nhắc lời ngôn sứ: “Hãy lên núi cao, hỡi kẻ loan tin mừng cho Sion.” Câu ấy không chỉ bảo người mục tử đứng chỗ cao cho người khác dễ nghe. Nó bảo họ đừng sống mãi dưới mặt phẳng thấp của những tính toán tiện lợi.
Trong đời sống mục vụ hôm nay, sự “thấp” ấy có nhiều dạng.
Đó có thể là một cha biết phải bảo vệ người yếu, nhưng lùi lại vì sợ mất lòng một gia đình có tiếng nói trong giáo xứ. Đó có thể là một sơ biết phải sửa điều sai, nhưng chọn im luôn vì sợ rắc rối thêm. Đó có thể là một huynh trưởng nói rất hay về hy sinh, nhưng tới lúc vác đồ, trực đêm, ở lại với đứa nhỏ khó chịu nhất, thì bắt đầu lảng đi. Cũng có thể rất kín hơn: người ta chọn việc dễ thấy hơn việc đúng; chọn điều làm mình đẹp mặt hơn điều thật sự cứu được người khác.
Và rồi bài giảng mất lửa.
Không phải vì thiếu ý. Nhưng vì người nghe cảm được có một khoảng cách nhỏ giữa điều được nói ra và điều đang được sống. Có những khoảng cách không ai chỉ ra thành lời, nhưng cộng đoàn cảm thấy. Người trẻ cảm thấy. Các em thiếu nhi cảm thấy. Người đau khổ cảm thấy. Vì cuối cùng, người ta luôn nhìn vào lưng người dẫn đường để biết con đường ấy có thật không.
Đến giữa ngày, người mục tử thường bắt đầu đụng không phải với lịch, mà với vết thương.
Một bà mẹ xin gặp cha vì đứa con bỏ lễ đã lâu. Một em nữ sinh nội trú ngồi trước mặt sơ, mắt đỏ hoe, nói mình không muốn về nhà nữa. Một bạn trẻ tìm đến với câu chuyện tình cảm rối bời, biết là sai mà chưa thoát ra nổi. Một em TNTT cãi lời, trốn sinh hoạt, nói dối, rồi đứng trước mặt anh chị huynh trưởng với vẻ ngang bướng rất dễ làm người lớn nổi nóng. Chính ở những lúc ấy, người mục tử mới thật sự thấy việc chăm sóc linh hồn không phải là nói những câu đẹp, mà là chạm vào những gì mong manh và rối ren nhất nơi con người.
Grêgôriô, ở chỗ này, cực kỳ thực tế.
Ngài nói người mục tử phải biết dùng cả rượu lẫn dầu. Rượu để làm vết thương xót lên. Dầu để làm nó dịu lại. Nghĩa là người chăm sóc linh hồn không thể chỉ biết an ủi. Nếu chỉ cho dầu, người ta sẽ tưởng mọi thứ đều ổn, và chỗ đang thối sẽ tiếp tục thối. Nhưng cũng không thể chỉ đổ rượu. Nếu chỉ biết làm đau, người ta sẽ khép lòng lại trước khi kịp được chữa lành.
Điều khó là hai người đến với mình có thể có cùng một lỗi, nhưng không phải cùng một liều thuốc.
Có người cần được nói rất thẳng, vì nếu mình nhẹ quá, họ sẽ tiếp tục trượt. Có người đang gãy rồi; thêm một câu nặng nữa là gãy hẳn. Có người đang lợi dụng lòng tốt của người khác; họ cần một giới hạn rõ ràng. Có người đã quá khinh mình; họ cần trước hết được nhìn bằng một đôi mắt không kết án. Có người cần bị chặn lại. Có người cần được kéo dậy. Và bi kịch là bề ngoài họ có thể giống nhau đến mức nếu người mục tử không có đời sống nội tâm sâu, rất dễ lẫn.
Đó là lý do việc mục vụ không phải là áp một bộ công thức lên những linh hồn khác nhau.
Nó giống một người băng bó vết thương giữa một trạm xá dã chiến hơn. Phải biết tay mình mạnh cỡ nào. Phải biết người kia đang chịu đau tới đâu. Phải biết lúc nào cần cắt. Lúc nào cần chờ. Lúc nào phải giữ im. Lúc nào cần ôm. Lúc nào cần nói một câu đủ cứng để họ không đi xa thêm. Lúc nào cần nói một câu đủ mềm để họ còn muốn quay về.
Một cha giải tội giỏi, một sơ đồng hành giỏi, một huynh trưởng tốt, nhiều khi không phải là người nói được những câu rất hay. Mà là người biết lúc nào nên trao rượu, lúc nào nên trao dầu. Và nhất là, không vì muốn được người khác thương mà bỏ mất rượu; cũng không vì thích cảm giác mình nghiêm mà làm cạn sạch dầu.
Rồi ngài quay lại rất nhanh với người sửa. Và đây là chỗ sắc nhất. Ngài nhắc: khi sửa người khác, người mục tử phải đề phòng chính trái tim mình, kẻo sự xét đoán bị lẫn vào đó những thứ không thuộc về Chúa: một nỗi bực riêng, một cơn nóng tự ái, một thành kiến cũ, một vết thương chưa được chữa lành.
Điều này xảy ra nhiều hơn ta tưởng.
Một cha vừa đi qua một ngày căng. Một chuyện nhỏ xảy ra. Một người lặp lại lỗi cũ. Câu sửa của cha hoàn toàn đúng. Nhưng giọng điệu thì không còn trong nữa. Một sơ đã nén mệt mỏi trong lòng nhiều ngày. Đến khi thấy một em trẻ vô kỷ luật, sơ góp ý rất chuẩn, nhưng cái chuẩn ấy mang theo một độ chua mà chính sơ cũng không nhận ra. Một huynh trưởng thấy các em quậy phá, và chỉnh rất mạnh. Bề ngoài là vì kỷ luật. Nhưng sâu bên trong, có thể đó còn là cái tôi bị chạm vì mình không còn kiểm soát được mọi thứ như trước.
Vì thế Grêgôriô nói người mục tử phải canh chừng chính mình khi đang thi hành sự sửa dạy. Nếu không, việc sửa lỗi sẽ giống như đem một con dao đi mổ, nhưng lưỡi dao ấy đã dính bụi. Nó vẫn có thể cắt. Nhưng nó không còn chữa lành một cách tinh tuyền nữa.
Thời nay, chỗ này càng phải sợ hơn.
Vì nhiều người có khả năng nói rất tốt. Họ có ngôn ngữ. Họ có lập luận. Họ có sức ảnh hưởng. Họ biết làm một reel chạm cảm xúc, một bài chia sẻ sâu, một podcast nghe rất “đúng”. Nhưng cái đúng của nội dung không tự động chứng minh cái trong của con người. Có khi một người đang nói rất hay về sự chữa lành, trong khi chính họ đang sống bằng những cơn căng, những bực dọc, những khoảng tối mà họ không dám đối diện. Có khi một người đang chỉnh người khác rất đúng, nhưng phần lớn năng lượng trong câu chỉnh ấy đến từ sự mệt, chứ không đến từ lòng yêu.
Người nghe không chỉ uống lời. Họ uống cả khí hậu của người nói.
Và nếu khí hậu ấy đầy bụi, sớm muộn gì họ cũng hít phải.
Rồi buổi chiều đến. Và đây là giờ của bụi.
Bụi của các cuộc họp. Bụi của giấy tờ. Bụi của tiền nong, xây dựng, sửa chữa, xin phép, phân chia, sắp xếp, giải quyết mâu thuẫn, gọi điện, nhắn tin, nhắc nhở, làm báo cáo, nghe than phiền, nghe góp ý, nghe trách móc. Một cha có thể vừa dâng lễ xong đã phải ngồi giải quyết chuyện mái nhà giáo lý bị dột, chuyện quỹ bác ái thiếu hụt, chuyện một người trong ban hành giáo tự ái. Một sơ có thể vừa đưa các em đi học về đã lao vào bếp, vào phòng y tế, vào sổ sách, vào một cuộc gọi từ phụ huynh. Một huynh trưởng có thể vừa tan ca ở công ty đã phóng xe qua giáo xứ, ghé mua đồ sinh hoạt, trả lời tin nhắn trong nhóm, lo danh sách trại, xử lý chuyện hai em cãi nhau.
Không có gì trong số đó tự nó là xấu.
Vấn đề chỉ bắt đầu khi bụi phủ lên mắt.
Grêgôriô nói người mục tử không được vì lo việc ngoài mà bỏ những việc trong, nhưng cũng không được vì mải những việc trong mà bỏ trách nhiệm bên ngoài. Đây không phải là một lời khuyên cân bằng kiểu đẹp đẽ chung chung. Đây là một chiến trường thật. Vì cả hai cực đều có thể giả làm nhân đức.
Có người nghiêng về nội tâm. Họ thích cầu nguyện, thích sách thiêng, thích tĩnh lặng, nhưng ngại va chạm, ngại chuyện đời, ngại những rối ren cụ thể của đoàn chiên. Bề ngoài trông rất đạo đức. Nhưng đoàn chiên sẽ đói một sự chăm sóc biết cúi xuống đời thường. Cũng có người nghiêng hẳn về việc ngoài. Họ rất hữu ích. Rất giỏi xoay xở. Rất năng nổ. Rất “được việc”. Nhưng càng ngày họ càng giống một người quản trị hơn là một mục tử. Họ xử lý rất nhiều. Nhưng không còn lắng nghe gì sâu nữa.
Grêgôriô dùng một hình ảnh rất lạ: tóc của tư tế không được cạo sạch, cũng không được để mọc dài quá. Nghĩa là những lo toan trần thế phải có, nhưng chỉ tới một mức. Nếu cắt sạch, người mục tử sẽ thành người chỉ biết trời mà quên đất. Nếu để dài phủ kín mắt, họ sẽ không còn thấy đường thiêng liêng nữa. Trong ngôn ngữ hôm nay: việc ngoài có thể ở trong lịch, nhưng không được ngồi lên ngai lòng mình.
Có những người không đánh mất căn tính vì những sa ngã lớn.
Họ đánh mất nó vì quá bận. Vì hết ngày này sang ngày khác, đời sống của họ tản ra thành quá nhiều việc hữu ích mà không còn một trung tâm đủ sâu giữ tất cả lại. Và rồi một lúc nào đó, họ nhận ra mình vẫn đang phục vụ Chúa, nhưng đã lâu không còn ở yên trước mặt Ngài.
Đây là một trong những hình ảnh buồn nhất của Grêgôriô.
Ngài nói rằng khi người mang chức thánh bị việc đời lôi đi, thì vàng trở nên xỉn màu, đá thánh bị văng ra đầu đường góc phố. Hình ảnh ấy đau vì nó không mô tả một cú sụp đổ đột ngột. Nó mô tả một sự phai. Một sự mờ. Một vẻ sáng vẫn còn đó, nhưng không còn rực nữa.
Một linh mục mà người ta nhắc tới và nghĩ ngay tới bình an, tới lời Chúa, tới sự dịu dàng, tới một chỗ có thể tựa vào, đó là một vẻ đẹp. Nhưng nếu lâu dần người ta chỉ nghĩ tới ngài như một người giải quyết chuyện rất giỏi, một người chạy việc nhanh, một người lo tài chính chắc, một người “quản” tốt, thì có cái gì đó đã đổi màu. Một nữ tu mà người ta gặp là thấy một độ lặng, một sự cắm rễ, một thứ ánh sáng âm thầm, đó là một ơn. Nhưng nếu thời gian trôi qua, người ta chỉ còn nhớ chị như một người lúc nào cũng vội, cũng căng, cũng đầy việc, cũng khó với chính mình và với người khác, thì màu của đời thánh hiến cũng đã nhạt đi.
Không phải vì quản trị là xấu.
Mà vì người mục tử không được phép bị đồng hóa hoàn toàn với những chức năng ấy. Một khi cộng đoàn chỉ còn nhìn thấy ở anh khả năng xử lý, mà không còn nhận ra nơi anh mùi của Chúa, thì bụi đã phủ dày rồi. Và điều đáng buồn nhất là nhiều khi chính người mục tử cũng không nhận ra thời điểm màu bắt đầu phai. Vì nó không mất trong một ngày. Nó mờ dần, mỗi lần việc ngoài lấn thêm một chút vào việc trong; mỗi lần người ta cho phép mình cầu nguyện vội hơn, học Lời Chúa hời hợt hơn, sống như thể nội tâm là thứ có thể bù sau.
Điều công bằng nơi Grêgôriô là ngài không chỉ nghiêm với người quá bận.
Ngài cũng nghiêm với người được rảnh mà không dùng sự rảnh đó để đi sâu hơn vào Chúa. Người ôm nhiều việc không được lấy đó làm cớ để sống cạn. Nhưng người ít việc hơn cũng không được lấy sự thong thả làm cớ để sống lỏng.
Điều này chạm rất thật vào đời sống Công giáo hôm nay.
Một cha quản xứ vùng xa có thể nói mình kiệt sức vì đi làm lễ cho các giáo họ, lo mục vụ, lo đủ thứ phát sinh. Điều ấy đúng. Một sơ phụ trách trường lớp hay nội trú có thể nói mình không còn hơi sau cả ngày. Điều ấy cũng đúng. Một huynh trưởng vừa đi làm vừa lo phong trào có thể thật sự mệt. Nhưng ở đầu kia, cũng có những người tương đối rảnh, mà tâm hồn vẫn rất nông, vì thời gian trống của họ bị nuốt vào lướt điện thoại, vào giải trí liên tục, vào những mối bận không tên, vào một thứ mệt mỏi loãng của thời đại.
Thành ra, vấn đề không chỉ là mình có bao nhiêu giờ.
Vấn đề là phần tốt nhất của mình thuộc về ai. Người mục tử, từ khi nhận trách nhiệm, không còn hoàn toàn là của riêng mình nữa. Có những linh hồn đang âm thầm sống nhờ vào mức độ trung tín của anh với Chúa. Anh có thể không thấy họ. Nhưng điều đó có thật.
Đêm xuống. Đây là giờ rất thật.
Một ngày dài đã hết. Người mục tử về phòng. Cơ thể mệt. Đầu đầy tiếng người khác. Có thể là sau giờ kinh tối. Có thể là sau một cuộc họp kéo dài. Có thể là sau phiên chầu, sau lớp giáo lý, sau buổi sinh hoạt TNTT, sau giờ trực nội trú, sau một ca khẩn cấp vừa đi bệnh viện về. Trong phòng lúc này chỉ còn ánh đèn bàn, quạt quay, một cuốn Kinh Thánh, một vài quyển sách, và chiếc điện thoại sáng lên như một lời mời rất nhẹ: nghỉ một chút đi.
Đây là nơi nhiều ngày sống bị rút ruột mà không ai biết.
Không phải bằng tội lớn. Chỉ bằng một kiểu trôi. Xem thêm một chút. Lướt thêm một chút. Đọc tin thêm một chút. Coi vài thứ vô thưởng vô phạt để đầu óc đỡ căng. Và rồi ngày khép lại mà linh hồn không hề được đặt lại vào tay Chúa.
Grêgôriô kết phần này bằng cách kéo người mục tử trở về với Lời Chúa. Với ngài, Kinh Thánh không phải là kho tài liệu để khi cần giảng thì mở ra lấy ý. Người mục tử phải sống trong Lời như người luôn ở gần hòm bia, luôn ở trong tầm của điều mình mang. Nghĩa là không đọc để có chất liệu nói, nhưng đọc để chính mình được giữ khỏi tan ra.
Điều này sống còn vì người mục tử nghe quá nhiều tiếng nói.
Tiếng than. Tiếng trách. Tiếng xin. Tiếng nịnh. Tiếng phê bình. Tiếng của mạng xã hội. Tiếng của thời sự. Tiếng của nhu cầu cộng đoàn. Tiếng của chính những bất an bên trong mình. Nếu không có một tiếng sâu hơn, thật hơn, bền hơn giữ mình lại, người mục tử sớm muộn cũng biến thành một ngã tư ồn ào. Và khi ấy, ngay cả lúc nói về Chúa, họ cũng chỉ nói bằng phần bề mặt.
Một người sống trong Lời chưa chắc là người luôn nói chuyện rất cao.
Nhiều khi đó chỉ là một người vẫn giữ được độ trong của cái nhìn. Vẫn chưa phản ứng ngay theo cơn bực. Vẫn chưa bị thời cuộc kéo phăng khỏi trung tâm. Vẫn còn một nơi để trở về. Vẫn còn một giếng sâu chứ không chỉ là những xô nước múc vội.
Có lẽ điều đẹp nhất của phần hai này là: Grêgôriô không đòi người mục tử phải là thiên thần.
Ngài biết họ mệt. Biết họ dễ phân tâm. Biết họ bị kéo về nhiều phía. Biết đời sống mục vụ luôn có sức bào mòn riêng của nó. Nhưng chính vì biết như thế, ngài càng không để họ tự ru ngủ mình. Người mục tử không cần hoàn hảo mới đáng tin. Nhưng người mục tử không được phép sống cẩu thả.
Không cẩu thả trong giờ cầu nguyện.
Không cẩu thả trong những ý nghĩ không ai thấy.
Không cẩu thả khi sửa người khác.
Không cẩu thả với việc ngoài.
Không cẩu thả với Lời Chúa.
Không cẩu thả với phần linh hồn của mình.
Ở ngoài cửa, Grêgôriô hỏi: ai nên bước vào?
Bước vào rồi, ngài hỏi câu khác, nhỏ hơn mà sắc hơn: giờ anh sống khác gì so với đoàn chiên?
Và có lẽ đó là câu nên ở lại sau khi gấp tập này lại.
Không phải: tôi đã làm được bao nhiêu việc.
Không phải: tôi còn được người ta quý không.
Không phải: tôi có còn hữu ích không.
Nhưng là: giữa bao linh hồn tôi đang đụng tới mỗi ngày, linh hồn tôi có còn ở lại với Chúa không?
(Còn tiếp...)
- John Phạm-
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét