GIÁO HỘI CÔNG GIÁO VÀ KHOA HỌC (3): VATICAN CÓ THỂ THIỆP ĐỂ SỬA SAI CHO KHOA HỌC CHĂNG?
Khoa học giữ vai trò trung tâm trong đời sống hiện đại. Chính nhờ khoa học mà bạn đang đọc Aleteia trên màn hình, qua Internet, chứ không phải trên từng trang giấy dưới ánh đèn dầu. Loại bài này sẽ đi sâu vào câu chuyện giữa Giáo hội Công giáo và khoa học. Câu chuyện này đã bắt đầu từ rất lâu và vẫn đang tiếp tục diễn ra hôm nay. Đây không chắc chắn là câu chuyện mà bạn nghĩ mình biết, nhưng là câu chuyện bạn nên biết, chính bởi khoa học đóng vai trò thì chốt trong thế giới chúng ta đang sống.
-----
Tại sao Vatican lại quyết định có thể in các vấn đề khoa học? Chúng tôi vừa tìm thấy những nội dung còn thiếu của Giáo hội trong quy trình đánh giá khoa học (xem Phần 2 trong loạt bài này). Ngược lại, về phía khoa học, nghĩ nó phải là một trong những phương pháp tốt nhất để khám phá thế giới sao? Nó có khả năng tự sửa sai, luôn mang đến cho chúng ta bức tranh chân thực hơn về vũ trụ. Khoa học tạo ra thế giới hiện đại và nó thực sự mang lại hiệu quả.
Hơn nữa, vấn đề muôn thuở về sách Sáng thế giới và “hai vầng sáng lớn” đã chọn chúng ta một mẫu để giải quyết tính kiên quyết giữa đức tin và khoa học: Kinh thánh diễn đạt theo cách hiểu thông thường, theo quan điểm của người bình thường; Kinh thánh không đưa ra một mô tả khoa học về vũ trụ. Điều này đã được biết đến từ Thánh Augustine (xem Phần 1 ).
Vậy tại sao Vatican không chỉ lo công việc của mình? Câu chuyện này phức tạp và có thể gây mất lòng.
Một lỗi sai của khoa học
Các học giả đã nghiên cứu những gì diễn ra vào cuối thế kỷ 19 khi vấn đề thuyết tiến hóa được thảo luận trong Giáo hội nói chung và Tòa thánh Vatican nói riêng. Họ nhận thấy rằng nhiều người có học thức trong Giáo hội đã nhấn mạnh mọi người đều có nguồn gốc từ Adam, cũng như nhấn mạnh sự đơn giản nhất của nhân loại. Những người này bao gồm: một công đồng địa phương; một mục; những tu sĩ dòng Tên phê bình thuyết tiến hóa; và một Quận ban Giáo hoàng về Kinh Thánh.
Ví dụ, vào năm 1898, Giám mục John Cuthbert Hedley ở Newport, Wales, đã viết bài đánh giá bốn tác phẩm về thuyết tiến hóa của Cha John Zahm, CSC., một linh mục và nhà khoa học từ Đại học Notre Dame (Hoa Kỳ). Trong bài đánh giá, Đức cha Cuthbert tuyên bố rằng “có một số vấn đề đã được mặc định rõ ràng đến mức không cần thiết hoặc nghiên cứu”. Vị trí mục tiêu đã khẳng định có một số vấn đề mà khoa học không cần xen vào nghiên cứu!
Chúng tôi là những vấn đề nào? Đức cha nói rằng: “Thành phần đơn nhất của loài như Tiến sĩ Zahm thừa thừa” là một trong số đó. Đức cha Hedley nghĩ, sự đơn nhất này là một trong số những chủ đề “mà nếu không dựa trên giáo dục của Giáo hội ngay từ đầu thì sẽ dẫn đến không chỉ sai móc, mà còn xúc phạm tôn giáo tôn giáo”.
Một ví dụ khác, Ủy ban Giáo hoàng về Kinh thánh năm 1909 không bác bỏ thuyết tiến hóa, nhưng cho rằng sách Sáng thế liên hệ đến nguồn gốc người. Ủy ban tìm thấy nguồn gốc “đơn tổ” của nhân loại, theo đó nhân loại làm nên một gia đình duy nhất.
Hiển thị rõ ràng diễn giải tính năng “đơn tổ”. Mọi người đều là hậu hậu của cùng một cặp cha mẹ, Adam và Eva. Do đó, chúng ta đều thuộc về một gia đình.
Tuy nhiên, quan điểm lập luận lại cho rằng các “loại” khác nhau đều có nguồn gốc riêng biệt. Theo đó, người ta cho rằng thực sự có những loài sinh vật giống nhau khác nhau, thường được gọi là các “thông tộc”. Quan điểm này được gọi là “đa tổ” (polygenistic), tức nhiều nguồn gốc cho nhiều “loại” hoặc “nhóm tộc”, trong đó phần lớn các “nhóm tộc” không thuộc dòng dõi Adam và Eva.
Tổ hợp là một ý tưởng xa xưa. Ngày càng được củng cố trong suy nghĩ của người Âu Châu nhờ những cuộc phát kiến vùng đất xa xôi nơi có người sinh sống. Tổ hợp cũng được xem là một quan điểm rất dịch giáo.
Một người tử đạo vì khoa học?
Giordano Bruno được nhiều người biết đến vì bị thiêu sống vào năm 1600 với tư cách là một kẻ dị giáo quan ngại. Ông ủng hộ nhiều ý tưởng gây khó chịu cho những người cùng thời. Vì cũng ủng hộ ý tưởng một vũ trụ vô hạn bao gồm những mặt trời khác, đều được bao quanh bởi các thế giới có người sống như Trái Đất, nên đôi khi ông được xem là một kẻ tử đạo vì khoa học.
Các học giả tranh luận xem các ý tưởng của ông về vũ trụ đóng vai trò đến đâu trong việc ông bị thiêu sống, nên với việc ông phủ nhận thần tính của Chúa Kitô, một ví dụ đơn giản. Nhưng một ý tưởng của Bruno mà nhiều người ngày nay sẽ thấy khó chịu là thuyết đa tổ. Ông lập luận vào năm 1591 rằng các ngôn ngữ khác nhau không thể có cùng một nguồn gốc:
By muôn màu da
Mà có nhiều loài người, và giống da đen
Của dân Ethiopia, và dòng giống da Vàng thổ dân Mỹ…
Không thể cùng một dòng theo dõi, cũng không sinh ra
Từ sức sống sinh sản của một tổ tiên duy nhất.”
Bruno lưu ý rằng “trong sách các loài tiên tiên, người ta nói mọi loài chủng loại đều phải được truy nguyên đến một tổ phụ đầu tiên”, nhưng ông cũng nói thêm “không ai có phán đoán đúng chiều lại cho rằng chủng loài Ethiopia có cùng tổ tiên đó”.
Việc Bruno loại “người Ethiopia” ra là điều thường thấy. Có vẻ như, thông thường theo “phán đoán đúng” thì “thông tộc da đen” được cho là không giống con người “thực sự” nhất.
Khoa học ở đâu?
Một số người cho rằng đánh giá đã đúng và kết quả thực sự là khoa học, chống lại thuyết đa tổ. Năm 1680, Morgan Godwyn xuất bản cuốn sách “Người bảo vệ dân da đen và da đỏ. Yêu cầu chấp nhận họ vào Giáo hội ”. Trong đó, ông chỉ ra rằng các loài khác nhau không sinh ra con cái có khả năng sinh sản. Ví dụ, mana và lừa đảo có thể sinh ra con la, nhưng con la lại vô sinh. Godwyn viết rằng, nếu các loài khác nhau là các loài khác nhau như ngựa và lừa, thì những người lai, “phải, giống như con la ... mãi mãi vô sinh”. Họ không thể sinh con. Nhưng Godwyn đã nhận thấy điều ngược lại diễn đàn ra hàng ngày. “Người lai” chắc chắn sinh con. Do đó, tất cả con người thuộc về một gia đình, không kể “thống tộc”. Đó đơn giản là một sự kiện khoa học. (Godwyn cũng ghi nhận rằng các nhà truyền thông công giáo nhận được sự đơn giản nhất của các loại nhân vật, và thậm chí miêu tả Chúa Giêsu là người da.)
Những người theo thuyết đa tổng vẫn khẳng định khoa học về phía họ. Ví dụ, JH Van Evrie (Tiến sĩ Y khoa) trong cuốn sách “ Người da đen và 'Chế độ nô lệ' da đen ” (1861) tuyên bố “kiểu suy luận –người da trắng và người da đen thuộc cùng một loài, vì người lai, không giống như con la, có khả năng sinh sản – là hoàn toàn nguy”. Van Evrie lập luận rằng những người lai hoàn toàn vô sinh, sự vô sinh chỉ biểu hiện qua nhiều thế hệ. Ông nói đây là kiến thức phổ thông trong buôn bán nô lệ.
Van Evrie không độc lập trong quan điểm này. Cuộc hội thảo năm 1850 của Hiệp hội Hoa Kỳ vì sự tiến bộ của Khoa học đã thảo luận về việc làm các loại “người” được định hình như thế nào, bởi vì “con lai” vô sinh về lâu dài và do đó là tuyệt chủng. Khoa học về thuyết đa tổ hợp là nền tảng cho toàn bộ chế độ nô lệ và áp bức tiểu tộc. Như chính Van Evrie đã chỉ ra,
Nếu người da đen có cùng một tổ tiên với chúng ta, hay nếu không tính bách màu da là cùng một sinh vật như chúng ta... thì là phận đầu tiên và cấp nhất của [một người hữu]... là làm gở, ngày đêm nỗ lực nâng cao chủng tộc bị áp bức và cảm xúc này – thậm chí chấp nhận mọi bất tiện cá nhân, ngay cả tử đạo để thực hiện một cách rõ ràng và cần thiết như vậy.
Không chỉ những người Mỹ bản địa liên quan đến vấn đề nô lệ mới có cảm nghĩ này. Một số khác cũng cho rằng những quan niệm tôn giáo giáo dục truyền thống về sự đơn nhất và về chất liệu của con người cần phải nhường chỗ cho bằng chứng khoa học, vốn cho thấy có những loại giống nhau. Georges Pouchet từ Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Quốc gia Paris hơn là bận tâm về việc cho rằng 'con người vẫn còn là một chủ đề thiêng liêng, không thể tránh tới', cho dù khoa học đã 'đánh bại' tôn giáo trong những cuộc tranh luận về chuyển động thiên văn địa chất và chất học (tuổi Trái Đất). Ông càu nhàu tại sao chúng ta có thể nghiên cứu đất đá, nhưng không thể nghiên cứu con người. Ông nói tôn giáo coi thường sự thật. Bạn có thể nói về loài gấu và với ý kiến, “nhưng một người Eskimo và một người châu Âu, một người da đen và một người Ba Tư, thì bạn buộc phải xem là cùng một loài”. [Theo ông],“Con người thực sự” phải là “thông tộc da trắng có não lớn và miệng nhỏ”. Cũng có những người khác muốn quan điểm tôn giáo
nên nhường chỗ cho những bằng chứng rõ ràng về khoa học quy nạp, và những sự kiện liên quan đến chủng tộc cần được coi trọng đúng đắn, như là một trong những dữ liệu quan trọng và đáng tin cậy nhất để lịch sử có thể dựa vào, đặc biệt là lịch sử của thời đại trước.
WikimediaCommons
Tất nhiên, ngày nay những ý tưởng không đẹp như vậy không còn được xem là khoa học. Khoa học hiện đại về cơ bản hỗ trợ quan điểm đơn tổ; khẳng định rằng tất cả mọi người đều thuộc về một gia đình, và những thứ khác biệt “thông tộc” là khá nhỏ, những thứ khác biệt giữa các cá nhân, và những thứ khác biệt trong các loài khác. Những quan điểm khoa học về “chủ nghĩa phân biệt chủng tộc” được Van Evrie và Pouchet cung cấp đã bị bỏ hoàn toàn, đến trình độ ngày nay chúng được coi là “ngụy” khoa học, mặc dù từng được xem là khoa học thế kỷ 19.
Ngày nay, người ta coi (diễn giải lại lời Giám mục Hedley) không chỉ sai, mà còn căng phạm, nếu không bắt đầu bất kỳ cuộc nghiên cứu khoa học nào bằng một quan điểm chắc chắn rằng mọi người, bất kể là “thng tộc” nào, đều thuộc cùng một gia đình và tự căn bản là bình đẳng. Ngày nay, bất kỳ nhà khoa học nào dù đề xuất đưa ra một lý thuyết đa tổ hợp mới về nguồn gốc con người, đều khẳng định rằng một số loại người không thực sự thuộc về gia đình nhân loại, đều sẽ bị phản đối gay gắt.
“Cuối cùng thì ...”
Ngày nay, chúng ta hoàn toàn bác bỏ quan điểm cho rằng khoa học có thể xác định người bên cạnh mình không phải là con người hoàn toàn. Những người không bỏ nó bị xếp vào hàng những kẻ lừa đảo khó nhất. Một số vấn đề được coi là quá rõ ràng (diễn lại lời Giám mục Hedley) đến mức không cần chất vấn hoặc nghiên cứu.
Do đó, bởi vì thuyết tiến hóa và thuyết đa tổ và quan điểm rằng một số người không hoàn toàn là con người đều gắn kết với nhau trong thế kỷ 19, ngay cả những người này ít quan tâm đến Giáo hội Công giáo cũng có thể hiểu tại sao Vatican lại quyết định có thể đặt vào vấn đề tiến hóa. Ngay trong những ngày này, các cuộc thảo luận về tổ tông và lịch sử nghiên cứu cũng có thể hiểu được sao đơn nhất của loại nhân phải là điều thiêng liêng.
Ví dụ về “chủ nghĩa phân biệt chủng tộc mang tính khoa học” cho thấy khoa học cần phải đối diện với sự trân quý và phê bình từ bên ngoài. Dù cho khoa học cuối cùng cũng tự sửa sai, cuối cùng cũng mang đến một bức tranh chân thực hơn về vũ trụ và cuối cùng cũng mang lại kết quả hiệu quả, nhưng vẫn chưa đủ vì khoa học có thể đi xa đến mức sai lầm, đến mức gây hậu quả nghiêm trọng như vậy.
------
Loại bài từ: Church and Science Archives - Aleteia
Phần 1 , Phần 2 , Phần 3 , Phần 4 , Phần 5 , Phần 6 , Phần 7
Lưu ý từ Ban biên tập: Loạt bài này dựa trên bài viết “Vatican và Khoa học có thể sai sót,” được Christopher M. Graney trình bày tại Hội nghị “Thống nhất & Bất ngờ nhất trong Khoa học” tại Đại học Notre Dame, ngày 4-6 tháng 4 năm 2024. Bài bài viết, có sẵn thông tin qua ArXiv , chứa các chi tiết và tài liệu tham khảo cho độc giả quan tâm.
Bài viết, và loạt bài của Aleteia này, mở rộng các ý tưởng được Graney và Giám đốc Đài Thiên văn Vatican Br. Guy Consolmagno, SJ phát triển trong cuốn sách năm 2023 của họ, được xuất bản bởi Paulist Press, When Science Goes Wrong: The Desire and Search for Truth.
Trầm Cung chuyển ngữ từ Aleteia.org (04/01/2025)
Nguồn: giaophannhatrang.org
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét