BÀI 29: MƯỜI ĐIỀU RĂN - ĐIỀU RĂN THỨ II
1. Danh Chúa là Thánh
Trong truyền thống Do Thái cũng như một số nền văn hóa, tên là người. Khi tôn trọng một người nào, người ta tôn trọng cả tên của người ấy. Để tôn vinh Thiên Chúa, tác giả Thánh vịnh đã viết: “Hồn tôi ơi, hãy chúc tụng Chúa, toàn thân tôi, hãy chúc tụng thánh danh Người”. Như vậy, chúc tụng Danh Chúa là chúc tụng chính Chúa. Điều này phù hợp với văn hóa Á Đông. Người ta thường không nhắc trực tiếp tới tên của những người được kính trọng. Trong xã hội phong kiến, khi nói đến vua, người ta dùng chữ “long” nghĩa là rồng: Long nhan (mặt vua), long xa (xe vua) long bào (áo vua)…
Điều răn thứ hai dạy phải tôn kính Danh Chúa. Cũng như điều răn thứ nhất, điều răn này thuộc về nhân đức thờ phượng, và một cách đặc biệt hơn, quy định việc sử dụng ngôn từ của chúng ta trong các vấn đề “thánh” (Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo (GLTHCG), số 2142).
Làm sao chúng ta biết được tên của Chúa? Chính Thiên Chúa đã mạc khải cho ông Môisen trong câu chuyện bụi gai (x. Xh 3,1-16). Tại đây, ông Môisen hỏi Chúa: “Nếu họ hỏi con: Tên Ngài là gì? Con phải nói sao?” Chúa trả lời: “Ta là Đấng Tự Hữu”.
2. Tôn kính Danh Chúa
Vì Danh Chúa là thánh, nên con người không được phép lạm dụng Danh đó. Họ phải ghi nhớ Danh đó trong sự thinh lặng tôn thờ đầy yêu mến (x. Sách GLTHCG, số 2143).
“Thiên Chúa trao phó Danh Ngài cho những kẻ tin vào Ngài. Việc ban tặng Danh Thánh thuộc lãnh vực thân thiết” (Sách GLTHCG, số 2143).
“Điều răn thứ hai cấm lạm dụng Danh Thiên Chúa, nghĩa là mọi cách sử dụng bất xứng đối với Danh của Thiên Chúa, của Chúa Giêsu Kitô, Đức Trinh nữ Maria và toàn thể các thánh” (Sách GLTHCG, số 2146). Ngày nay có nhiều người trích dẫn Lời Chúa một cách tùy tiện, đôi khi để làm lá chắn cho hành vi không tốt của mình. Những người Hồi giáo vũ trang nhân danh Danh Thiên Chúa để khủng bố và giết người. Chúa Giêsu đã cảnh báo: “Sẽ đến giờ mà kẻ nào giết anh em lại tưởng rằng mình đang thờ phượng Thiên Chúa” (Ga 16,3).
Kitô hữu cũng không thể nhân danh Chúa mà hứa một cách tùy tiện. “Những lời hứa với tha nhân nhân danh Thiên Chúa đều liên hệ đến danh dự, sự trung tín, sự chân thật và quyền bính thần linh… Không giữ các lời hứa đó là lạm dụng Danh Thiên Chúa, và một cách nào đó, làm cho Thiên Chúa thành kẻ nói dối” (Sách GLHTCG số 2147). Thánh Gioan viết: “Nếu chúng ta nói rằng chúng ta đã không phạm tội, thì chúng ta coi Người là kẻ nói dối, và lời của Người không ở trong chúng ta” (1 Ga 1,10).
3. Kitô hữu là người làm chứng cho Danh Chúa
“Tín hữu phải làm chứng cho Danh Chúa bằng cách tuyên xưng đức tin của mình mà không sợ sệt” (Sách GLHTCG, số 2145). Thực ra, làm chứng cho Danh Chúa tức là làm chứng cho Chúa. Giữa một thế giới vô thần, Kitô hữu có sứ mạng làm chứng về sự hiện hữu của Thiên Chúa, về cuộc đời Đức Giêsu và về giáo huấn của Người. Đó là trách nhiệm và là sứ mạng của những người đã được lãnh nhận Bí tích Thanh tẩy.
“Nhân Danh Cha, và Con, và Thánh Thần”: Đó là lời kinh đọc đi liền với dấu Thánh giá. Người tín hữu làm mọi việc đều nhân danh Chúa, khi ra đường, khi làm việc, khi gặp gỡ… bất kể điều gì đều làm nhân Danh Chúa. Thánh Phaolô khuyên tín hữu Côlôsê: “Bất cứ điều gì anh chị em làm, dù trong lời nói hay hành động, hãy nhân danh Chúa Giêsu mà làm mọi điều, nhờ Ngài mà tạ ơn Đức Chúa Trời là Cha” (Cl 3,17). Nếu luôn ý thức mình sống và làm việc nhân Danh Chúa, chúng ta sẽ cảm nhận niềm vui và bình an.
4. Không được kêu Danh Chúa cách bất xứng
Điều răn thứ hai cấm thề gian. Thề là lấy Thiên Chúa làm chứng cho điều mình xác quyết, là kêu cầu sự chân thật thần linh làm bảo chứng cho sự chân thật của mình. Lời thề ràng buộc Danh Chúa. Ông Môisen đã nói: “Thiên Chúa của anh em, là Đấng anh em phải kính sợ, chính Ngài là Đấng anh em phải phụng thờ; anh em sẽ nhân danh Ngài mà thề” (Đnl 6,13; Sách GLTHCG, số 2150).
Chúa Giêsu dạy: “Thầy bảo anh em, đừng thề chi cả… nhưng hễ ‘có’ thì nói ‘có’, ‘không’ thì nói ‘không’. Thêm thắt điều gì là do ác quỷ” (Mt 5,33-34.37).
Truyền thống Giáo hội vẫn hiểu lời Chúa Giêsu là không cấm thề, nếu có lý do nghiêm trọng và chính đáng (chẳng hạn trước tòa án; linh mục thề hứa trung thành với Giáo hội; giảng viên dạy đại chủng viện tuyên xưng đức tin và thề hứa trung thành với giáo huấn của Giáo hội).
5. Danh hiệu Kitô hữu - Tên thánh
Khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội (Thanh tẩy) để trở thành con cái Chúa, Kitô hữu nhận cho mình một tên thánh. Tên thánh có thể do cha mẹ hoặc người đỡ đầu chọn cho con mình, nhất là trong trường hợp rửa tội cho trẻ sơ sinh. Tên này thường là tên của Đức Trinh nữ Maria hay của một vị thánh nào đó, nghĩa là của một môn đệ đã sống đời trung thành mẫu mực với Chúa.
Vị thánh được chọn khi lãnh nhận Bí tích Thanh tẩy, chúng ta gọi là thánh bổn mạng, hay thánh quan thày. Vị thánh này nêu gương sống cho người tín hữu, và luôn chuyển cầu cho chúng ta. Khi nhận một vị thánh làm bổn mạng, chúng ta phải học biết về cuộc đời cũng như nhân đức của vị thánh ấy.
Kết luận
“Lạy Chúa, là Chúa chúng con, lẫy lừng thay Danh Chúa trên khắp cả địa cầu” (Tv 8,2). Danh là người. Nơi Thiên Chúa, danh không chỉ để gọi và để phân biệt với người khác, mà danh Chúa cũng là bản tính thiêng liêng của Ngài. Điều này thể hiện khi Thiên Chúa mạc khải Danh của Ngài cho ông Môisen: “Ta là Đấng Tự Hữu”.
Kitô hữu phải tôn kính Danh Chúa. Không được sử dụng Danh ấy một cách bất xứng và tùy tiện. Cũng vậy, danh Đức Trinh nữ Maria và các thánh cũng cần được tôn trọng.
Tín hữu phải làm chứng cho Danh Chúa bằng cách tuyên xưng đức tin của mình mà không sợ sệt. Khi làm dấu thánh giá kèm lời đọc: “Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần”, chúng ta nhân Danh Chúa để làm việc, học hành, cầu nguyện…”. Vì vậy, phải làm sao để những hành vi của chúng ta xứng đáng với việc nhân Danh Chúa.
Có thể nhân Danh Chúa để thề, nhưng phải có lý do thật quan trọng. Hơn nữa, một khi nhân Danh Chúa mà thề, thì lời thề đó phải chân thật và phải được trung thành tuân giữ.
Mỗi người tín hữu, khi được rửa tội, nhận cho mình một “tên thánh”. Đây là danh hiệu Kitô hữu của người đó. Vị thánh bổn mạng hay quan thầy sẽ đồng hành với chúng ta trong suốt cuộc đời để chuyển cầu cho chúng ta trước tòa Chúa. Kitô hữu cũng cần học biết đời sống của các ngài để noi gương các ngài trong đời sống hằng ngày.
Nguồn: tonggiaophanhanoi.org
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét