BÀI 30: GIẢI ĐÁP THẮC MẮC - GIÁO LÝ CHO NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH
Câu hỏi 1: Gần đây, có một số nhà thờ được cung hiến trọng thể. Trong nghi thức này, có việc đặt Hài cốt các thánh Tử đạo. Xin giải thích ý nghĩa.
Trả lời: Trong Nghi thức Cung hiến bàn thờ, một số nơi được đặt Hài cốt các Thánh Tử đạo. Ý nghĩa của nghi thức này như sau:
1. Trong thời sơ khai, các thánh lễ thường được dâng tại hầm mộ các vị tử đạo. Nghi thức này mang ý nghĩa: Cái chết anh hùng của các vị tử đạo được kết hợp với Hy tế Thập giá của Đức Giêsu. Nói cách khác, việc các vị tử đạo hy sinh mạng sống để làm chứng cho đức tin cũng mang ý nghĩa hy tế phụng thờ. Các ngài đã trở nên của lễ hy sinh dâng lên để thờ phượng ca tụng Chúa, đồng thời xin ơn cho phần rỗi nhân loại. Như thế, Thánh lễ các Kitô hữu dâng là sự kết nối liên tục, từ hy tế của Đức Giêsu trên thập giá, đến cái chết của các vị tử đạo cho đến thánh lễ được cử hành.
2. Dần dần với thời gian, khi cộng đoàn Kitô hữu phát triển nhanh chóng, thánh lễ được dâng tại các tư gia. Năm 313, vua Constantino đã ban bố chỉ dụ Milano, chấm dứt các cuộc tàn sát Kitô hữu trong toàn đế quốc La-mã. Từ đây, Kitô hữu được tự do hành đạo, và các nhà thờ bắt đầu được xây dựng.
3. Trước đây, để nhắc lại ý nghĩa liên kết giữa Hy tế của Chúa Giêsu, với cái chết của các vị tử đạo và với thánh lễ của Kitô hữu, tại các bàn thờ bất kỳ nơi đâu, đều phải lắp đặt một viên đá thánh. Viên đá này tiếng La-tinh là lapis sacer cum reliquiis(có nghĩa viên đã thánh có chứa thánh tích). Thông thường, viên đá này có chiều dài khoảng 35 cm, chiều rộng 30 cm, dày khoảng 4 cm. Ở chính giữa viên đá này có một lỗ nhỏ, có xương thánh tử đạo đặt bên trong và lấy xi-măng gắn lại. Viên đá thánh được xem như “trái tim” của bàn thờ, nơi linh mục đặt bánh thánh và chén thánh trong suốt thánh lễ.
4. Sau cuộc cải cách của Công đồng Vatican II, luật Phụng vụ đã có nhiều thay đổi. Quy chế Tổng quát của Sách lễ Rôma năm 1969 không còn buộc phải có Đá thánh trong cấu trúc bàn thờ nữa. Quy chế này cũng quy định: Có thể đặt Hài cốt các thánh dưới bàn thờ, chứ không phải trong Đá thánh. Nghi thức này cũng không phải là một điều bắt buộc. Vì vậy, chúng ta thấy không phải bàn thờ nào được cung hiến cũng có Hài cốt các thánh.
5. Đối với chúng ta ngày nay, mỗi khi dâng thánh lễ, tại bất cứ nhà thờ nào, chúng ta đều hiệp thông với Hy tế của Đức Giêsu và với cuộc tử đạo anh hùng của biết bao Kitô suốt bề dày lịch sử. Chúng ta cũng hiệp thông với các thánh trên trời, cùng với Đức Trinh nữ Maria, các thánh nam nữ, những người công chính đang được diễm phúc chiêm ngưỡng vinh quang Chúa trên thiên quốc để làm thành một lời cầu nguyện duy nhất và một bài ca duy nhất ca tụng Thiên Chúa quyền năng, đồng thời xin Chúa ban ơn theo nhu cầu và khát vọng của con người.
Kết luận: Việc đặt Hài cốt các thánh vào bàn thờ trong nghi thức cung hiến mang ý nghĩa lịch sử và ý nghĩa thiêng liêng. Mọi thánh lễ dâng trên bàn thờ đều là sự liên kết với máu các thánh tử đạo và với Hy tế của Chúa Giêsu trên thập giá. Thánh lễ là hiện tại của hy tế thập giá, hầu đem ơn cứu độ cho mọi người ở mọi nơi và mọi thời.
Câu hỏi 2: Trong Cựu ước, Thiên Chúa cấm không được thờ ảnh tượng. Tại sao trong các nhà thờ Công giáo có rất nhiều ảnh tượng. Điều này có phải đi ngược với Kinh thánh không ?
Trả lời: Câu hỏi này đề cập tới một vấn đề đang gây tranh cãi hiện nay, do ảnh hưởng của một số giáo phái đang tồn tại ở Việt Nam cũng như một số quốc gia. Những người theo giáo phái này mượn danh Kinh thánh để có những hành động cực đoan như bỏ hoàn toàn bàn thờ Chúa, chế giễu việc tôn kính ảnh tượng và dỡ bỏ bàn thờ ông bà.
Vào thế kỷ thứ VIII, trong Giáo hội đã nổi lên phong trào bài trừ việc thờ ảnh tượng. Phong trào này có ảnh hưởng mạnh đến sự hiệp nhất của Giáo hội. Họ viện dẫn Cựu ước để chống phá việc thờ ảnh tượng trong nhà thờ. Phong trào này đã gây nhiều hậu quả tai hại: nhiều ảnh tượng và tác phẩm nghệ thuật bị đập phá. Để lập lại trật tự trong Giáo hội, Công đồng Nicaea II năm 787 được triệu tập, và Giáo hội xác định tôn kính ảnh tượng là hợp pháp. Việc tranh cãi về chủ đề này kéo dài trong thời gian hơn 200 năm.
1. Trước hết, chúng ta xem Thiên Chúa nói thế nào về Điều răn thứ hai trong Mười điều răn của Cựu ước, còn gọi là Thập điều. Xin trích nguyên văn: “Ngươi không được tạc tượng, vẽ hình bất cứ vật gì ở trên trời cao, cũng như dưới đất thấp, hoặc ở trong nước phía dưới mặt đất, để mà thờ. Ngươi không được phủ phục trước những thứ đó mà phụng thờ: vì Ta, Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, là một vị thần ghen tương”(Xh 20, 4-5). Chúng ta có thể đọc cùng một nội dung này trong sách Đệ nhị luật, chương 5,7-9.
2. Bối cảnh văn hóa xã hội của Cựu ước: Dân Israel sống giữa một thế giới đa thần ở vùng Lưỡng Hà. Các dân tộc xung quanh thờ thần sấm thần sét; thần mưa thần gió; mặt trời mặt trăng. Họ cũng tin rằng, mỗi nghề nghiệp trong cuộc sống đều có một vị thần. Theo sách Xuất hành và sách Đệ nhị luật, các dân xung quanh thờ đều là ngẫu tượng. Lời Kinh thánh mà chúng ta trích dẫn trên đây là sự thanh lọc đức tin của dân Israel. Điều sau này chúng ta gọi là tôn giáo độc thần, tức là Do Thái giáo.
3. Vào thời điểm Luật Giao ước được công bố, dân Israel vừa được Thiên Chúa giải phóng khỏi ách nô lệ Ai Cập, và đã trải qua cuộc hành trình dài trong sa mạc. Nay họ định cư ở Canaan, nên cần phải được cảnh báo để không bị cám dỗ ngả theo các tà thần hay các ngẫu tượng. Qua mạc khải của Thánh kinh, Thiên Chúa là Đấng duy nhất đáng tôn thờ và Israel chỉ tôn thờ một mình Ngài mà thôi.
4. Trong niềm tin của dân Israel, và của Kitô hữu chúng ta ngày nay, Thiên Chúa luôn luôn là Đấng mà con người không thể thấu đạt và không thể trình bày bằng một bức tượng hay một tranh vẽ. Nhờ mạc khải và lý trí, con người có thể suy tư về các phẩm tính của Thiên Chúa, về các mầu nhiệm cao siêu của Ngài, nhưng không thể diễn tả hết về Ngài, như chúng ta diễn tả một nhân vật trong thế giới hữu hình. Vì vậy, Thiên Chúa luôn luôn là Đấng cao cả và linh thiêng trên hết mọi tạo vật và trên hết tất cả những gì mà con người muốn diễn đạt về Ngài.
5. Cũng giống như Đạo Do Thái, Đạo Kitô của chúng ta là một tôn giáo mạc khải, tức là chính Thiên Chúa tỏ mình ra cho chúng ta. Kinh thánh là sự tỏ mình của Thiên Chúa cho chúng ta. Đương nhiên chúng ta cũng không thể hiểu hết mạc khải, vì chúng ta còn nhiều giới hạn. Sự mạc khải lớn lao nhất và hoàn hảo nhất trong lịch sử, đó là Con Thiên Chúa đã xuống thế làm người để nói với chúng ta về Chúa Cha (x. Ga 1,18).
Vì là Đạo mạc khải, nên con người phải trung thành và hoàn toàn tin vào Thiên Chúa, Đấng tự mạc khải chính mình cho con người. Con người không được tự ý tạc vẽ bất cứ hình ảnh nào về Thiên Chúa, không phải chỉ là hình tượng bên ngoài, mà cả những ý tưởng về Thiên Chúa trong tâm trí và quan niệm sống của con người. Ví dụ như: quan niệm Chúa như vị thần tài, hoặc như một bác sĩ tài giỏi …
6. Trở về tâm điểm của vấn đề: Trong các nhà thờ của Công giáo, trước hết chúng ta thấy có tượng Chúa Giêsu chịu đóng đinh, hoặc trong mùa Phục sinh thì có tượng Chúa sống lại, có nhiều tranh vẽ họa lại những biến cố trong Kinh thánh, tượng Đức Trinh nữ Maria, Thánh Giuse và các Thánh. Giáo hội Công giáo trưng bày ảnh tượng trong nhà thờ có những lý do sau đây:
a) Chúng ta tôn thờ Thiên Chúa. Tuy vậy, Thiên Chúa là Đấng vô hình, không thể diễn tả bằng tượng hay tranh vẽ.
b) Đức Giêsu đã nói: “Ai thấy Thầy là thấy Cha”. Như vậy, chúng ta tôn thờ Chúa Cha qua việc tôn thờ Chúa Con.
c) Chúa Giêsu vừa là Thiên Chúa thật vừa là người thật. Về phương diện nhân loại, Người là một con người lịch sử. Qua mầu nhiệm Nhập thể, Chúa mang một thân xác như chúng ta, chỉ ngoại trừ tội lỗi. Vì thế, chúng ta thờ Chúa Giêsu dưới dạng một pho tượng hay hình ảnh, là chúng ta tôn thờ Con Thiên Chúa đã xuống thế làm người.
d) Giáo hội Công giáo không dành việc thờ Đức Mẹ và các Thánh ngang hàng như việc tôn thờ Đức Giêsu hay tôn thờ Chúa Cha, mà đó chỉ là tôn kính. Đức Mẹ và các Thánh là những con người lịch sử, có thân xác như chúng ta, nên việc trưng bày tượng ảnh không phải là tôn kính những điều không có thật, càng không phải là chúng ta thờ những sự vật. Hơn nữa, việc tôn kính Đức Mẹ và các Thánh cũng đều quy hướng về Đức Kitô, Đấng được tôn vinh nơi các ngài. (x. Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo (GLHTCG) số 1161))
Ảnh tượng giúp cầu nguyện. Vẻ đẹp và màu sắc của các ảnh tượng kích thích việc cầu nguyện, giúp gần gũi và nâng tâm hồn lên tới Chúa. Khi dùng con mắt thể xác chiêm ngưỡng các ảnh tượng, thì cũng dùng con mắt ký ức để suy niệm về hành vi và đời sống của các Ngài mà bắt chước (x. Lời nguyện làm phép tượng ảnh). Do đó, “việc chiêm ngắm các ảnh tượng thánh, cùng với việc suy niệm Lời Chúa và việc ca hát Thánh thi phụng vụ, sẽ tạo nên một sự hoà hợp các dấu chỉ trong cuộc cử hành, làm cho mầu nhiệm được cử hành in sâu vào tâm khảm các tín hữu, rồi được biểu lộ ra trong đời sống mới của họ.” (GLHTCG số 1162)
7. Tất cả các nghi thức tôn thờ của Kitô giáo đều quy hướng về Chúa Cha. Câu kết của các kinh nguyện Thánh Thể đã diễn tả điều ấy: “Chính nhờ Người (tức là Đức Giêsu Kitô), với Người và trong Người, mà mọi danh dự và vinh quang đều quy về Chúa là Cha toàn năng trong sự hợp nhất của Chúa Thánh Thần đến muôn đời”.Như thế, khi dâng thánh lễ, là chúng ta cử hành Hy tế của Chúa Giêsu, để rồi nhờ Hy lễ ấy, chúng ta có thể đến gần Chúa Cha và xin Chúa Cha ban cho chúng ta muôn phúc lành.
8. Đôi khi chúng ta thấy trên mạng có những tranh vẽ diễn tả Chúa Cha là một cụ già nhân hậu, tóc bạc, rất nhân hậu và từ bi. Giáo hội không khuyến khích sử dụng những hình ảnh này trong các nhà thờ. Trái lại, người ta có thể diễn tả Chúa Cha qua biểu tượng một bàn tay (thể hiện quyền năng), hoặc tia sáng hay đám mây, để mô phỏng những lần Thiên Chúa tỏ mình trong Cựu ước.
9. Ngẫu tượng là những sự vật, những hiện tượng trong thiên nhiên được người ta thờ phượng giống như thờ phượng Thượng đế. Trong xã hội của chúng ta hôm nay, vẫn còn nhiều người thờ ngẫu tượng. Có người thờ cây đa hay cây cổ thụ; có người thờ thần sấm thần sét hoặc một số hiện tượng tự nhiên. Tiền bạc và danh vọng cũng có thể trở thành một thứ ngẫu tượng, khi người ta tôn thờ nó như tôn thờ một vị thần.
Kitô giáo cũng tuân giữ những quy định của Luật Giao ước. Tuy vậy, vì Đức Giêsu đã xuống thế làm người, có hình tượng cụ thể, nên người Công giáo thờ tượng ảnh của Ngài. Còn Đức Mẹ và các Thánh, các ngài cũng là những nhân vật lịch sử, nên người Công giáo tôn kính và soi vào đời sống của các ngài như gương sáng để cố gắng vượt lên những khó khăn, trở nên hoàn thiện như các ngài.
Kết luận: Chúng ta chỉ tôn thờ Thiên Chúa là Đấng duy nhất, thánh thiện và quyền năng.
Nguồn: tonggiaophanhanoi.org
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét