Trang

Thứ Hai, 13 tháng 7, 2026

Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu - Tập 4: Đêm tối đức tin của Têrêsa

 Tập 4: Đêm tối đức tin của Têrêsa

(Series viết về Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu · Tiến sĩ Hội Thánh thứ 33)
Muốn hiểu đêm tối đức tin của Têrêsa, mình nghĩ phải đặt chị trở lại đúng ngôi nhà thiêng liêng mà chị thuộc về: dòng Cát Minh. Têrêsa không đi một mình trong vùng tối ấy. Chị cầu nguyện, lớn lên và được nuôi dưỡng trong linh đạo Cát Minh, linh đạo của thinh lặng, cầu nguyện nội tâm, của một tình yêu muốn đi tới kết hiệp sâu với Chúa. Đó cũng là dòng của thánh Têrêsa Avila và thánh Gioan Thánh Giá, hai khuôn mặt đã dạy cả truyền thống này hiểu rằng: trên đường đến với Chúa, có những lúc Ngài sẽ đưa linh hồn đi qua một “đêm tối” để thanh luyện nó.
Vì thế, nếu chỉ nói “Têrêsa bị khủng hoảng đức tin” thì chưa đủ. Theo thánh Gioan Thánh Giá, đêm tối trước hết không phải là chiến thắng của ma quỷ, mà là một công việc kín đáo của chính Thiên Chúa. Ngài rút bớt những an ủi, những hình ảnh ngọt ngào, những cảm giác sáng sủa mà linh hồn từng quen bám vào, để dạy nó yêu Ngài theo một cách sâu hơn, nghèo hơn và thật hơn.
(Mọi người muốn hiểu hơn về cách cách cầu nguyện này thì mình có để link ở dưới...)
Nhưng cũng chính ở đó, ma quỷ xuất hiện. Nó không tạo ra đêm tối ấy. Nó không có quyền thanh luyện linh hồn. Việc đó thuộc về Chúa. Nhưng như con rắn trong vườn Địa Đàng, nó luôn chực chờ. Nó thấy lúc con người yếu, lúc ánh sáng bị rút đi, lúc lòng không còn được nâng đỡ bằng an ủi, và nó len vào suy nghĩ, vào trí tưởng tượng, vào những hình ảnh và tiếng nói bên trong, để bẻ hướng thử thách thành tuyệt vọng, thanh luyện thành bỏ cuộc, và tình yêu thành ngờ vực.
Chính ở điểm đó, đêm tối của Têrêsa trở nên rất đẹp. Vì đây không chỉ là câu chuyện một vị thánh “chịu khổ”. Đây là câu chuyện một linh hồn bị đánh rất sâu vào ý nghĩ, nhưng vẫn không để bóng tối quyết định thay mình.
Têrêsa kể rất thật về khoảnh khắc ánh sáng bị rút đi:
“Ôi ! Bỗng đâu sự sáng đã tan đi hết, sự tối tăm vốn đã vây phủ tứ bề, lại ập vào tới linh hồn, tan lẫn trong cả người con, làm con không còn thể tưởng nhớ được hình ảnh đẹp đẽ của Quê thật nữa...”
Câu này buồn mà rất thật. Trước đó, “Quê thật”, thiên đàng, sự hiện diện của Chúa, niềm hy vọng được gặp Ngài, là một điều rất sống động trong chị. Nhưng rồi có lúc, tất cả như bị rút đi. Không phải chị thay đổi đức tin. Không phải chị đứng lên tuyên bố không còn tin nữa. Nhưng cái khả năng “thấy”, “hình dung”, “cảm” được những điều ấy bỗng mờ hẳn. Như một bầu trời từng đầy sao nay bị mây đen trùm kín.
Ở đây, mình thấy rất rõ tinh thần của thánh Gioan Thánh Giá: Chúa đang thanh luyện một linh hồn bằng cách lấy khỏi nó chính những điểm tựa thiêng liêng quen thuộc. Không còn ánh sáng dễ chịu. Không còn niềm an ủi giúp mình cầu nguyện cách êm. Không còn cảm giác thiên đàng gần ở trước mắt. Chúa để linh hồn nghèo đi, để nó học bước tiếp không bằng cảm xúc, mà bằng lòng phó thác.
Nhưng ma quỷ không bỏ qua cơ hội ấy. Và Têrêsa mô tả điều đó bằng một đoạn đáng sợ đến mức người đọc phải dừng lại:
“Con nghe như thần tối tăm mượn tiếng kẻ dữ mà phỉ báng con rằng: ‘Mày mơ sự sáng, mày mộng Quê thật, mày chiêm bao hưởng Đấng tạo thành muôn vật đời đời, mày mong mỏi cái ngày hồng phúc kia để thoát ly chốn tối tăm này! Ừ, thì cứ bước tới đi... cứ tiến cho mau!... cứ tha hồ mà nô nức được chết chẳng thí cho mày, sự mày ước mong trông đợi đâu, nó sẽ cho mày một đêm càng đen đủi tối tăm hơn, mày sẽ phải chết cả hồn lẫn xác cho mà xem!’.”
Đây chính là giọng của con rắn. Nó không nói thẳng: “Hãy phản bội Chúa.” Nó tinh vi hơn nhiều. Nó nhại lại điều chị yêu nhất, “sự sáng”, “Quê thật”, “ngày hồng phúc”, rồi biến tất cả thành trò cười. Nó muốn làm cho hy vọng của chị trông như một thứ ngây thơ, một ảo tưởng, một cơn mơ đẹp của người quá yếu để nhìn thực tế. Sau đó, nó đẩy tới một bước nữa: không chỉ phủ nhận ánh sáng, mà còn dọa chị bằng hư vô, bằng một cái chết “cả hồn lẫn xác”.
Đây là cách ma quỷ đánh vào linh hồn: nó nhắm vào suy nghĩ, vào cách mình đọc thực tại. Nó không nhất thiết kéo người ta ra khỏi Chúa bằng một cú ngã lộ liễu. Nhiều khi, nó chỉ cần làm cho người ta nghi những điều mình từng tin, cười vào điều mình từng yêu, và mệt đến mức tự buông tay. Với Têrêsa, ma quỷ biết nó không thể thắng bằng những cám dỗ thô. Nó phải đánh vào nơi sâu nhất: niềm hy vọng.
Và rồi, nó đi sâu hơn nữa. Không chỉ đánh vào điều chị hy vọng, nó đánh vào chính cảm thức rằng chị được Chúa yêu:
“Con nghe không biết tiếng từ đâu sỉ báng con rằng: - Mày chắc mày được Đức Chúa Trời yêu ư? Đức Chúa Trời có hiện đến bảo mày thế không? Thiển ý của mấy người nghĩ tốt cho mày chẳng đủ làm mày lành thánh trước mặt Chúa đâu.”
Nếu ở đoạn trên, con rắn hỏi: “Thiên đàng có thật không?”, thì ở đây nó hỏi: “Mày có chắc mày được yêu không?” Mà đây mới là đòn đau nhất. Vì khi một người bắt đầu nghi ngờ mình có được yêu hay không, mọi sự khác cũng chao đảo theo. Cầu nguyện trở nên vô nghĩa. Hy sinh trở nên trống rỗng. Lòng trung thành bắt đầu mất lý do để đứng vững.
Ma quỷ rất hiểm ở chỗ đó. Nó không chỉ đánh vào tương quan của chị với Chúa, mà còn cố cắt luôn mọi chiếc cầu nâng đỡ từ bên ngoài. “Thiển ý của mấy người nghĩ tốt cho mày…”, nghĩa là ngay cả những lời người khác khích lệ, nhìn nhận, yêu thương chị, nó cũng muốn làm cho chị nghi ngờ nốt. Nó muốn nhốt chị trong một cái buồng kín của ngờ vực, nơi chị không còn tin được Chúa, cũng không còn tin được bất cứ lời nâng đỡ nào nữa.
Và chính ở đây, Têrêsa làm mình rất phục. Không phải vì chị không bị những lời ấy làm đau. Chị thú nhận rất thật rằng mình “đã phải băn khoăn buồn bã rất nhiều”. Chị không giả vờ vô cảm. Chị không diễn vai một vị thánh bất động trước bóng tối. Chị cho thấy rõ: những tiếng nói đó có sức công phá thật. Chúng làm chị chao đảo thật. Chính sự trung thực ấy làm cho sự kiên cường của chị càng lớn. Bởi vì sức mạnh của chị không phải là không bị thương, mà là vẫn không bỏ cuộc khi đang bị thương.
Têrêsa còn để lại một chỉ dẫn rất quý về cách chị chống trả:
“Mỗi khi ma quỷ tấn công cám dỗ con về đức tin; con cầm mình rất can đảm; nhưng vì biết rằng đánh tay đôi với thù tử là hèn nhát, nên con tháo lui ngay chẳng thèm ngó nó nữa; con chạy đến phân phô cùng Chúa...”
Câu này đẹp vô cùng, và rất đúng tinh thần Cát Minh. Têrêsa hiểu rằng có những trận chiến không thắng bằng cách ở lì trong đầu mà cãi nhau với bóng tối. Càng cãi, càng mắc vào lưới của nó. Càng cố tự chứng minh mọi thứ cho thật chắc, càng dễ kiệt sức. Cho nên chị không “đánh tay đôi”. Chị rút khỏi cuộc vật lộn vô tận trong đầu, rồi chạy về phía Chúa.
Đó không phải là trốn tránh. Đó là khôn ngoan. Đó là biết đâu là chiến trường thật. Bởi vì ở tầng sâu nhất, đức tin không chỉ là chuyện trả lời cho hết mọi câu hỏi; nó là chuyện ở lại trong tương quan với Chúa ngay cả khi mọi câu hỏi chưa có câu trả lời.
Và cuối cùng, điều làm đêm tối của Têrêsa đẹp đến thế nằm ở chỗ này:
“Chúa đã biết dầu tôi chẳng còn được đức tin soi sáng an ủi mặc lòng; nhưng tôi vẫn làm việc đức tin dạy cách vững vàng. Trong một năm nay, tôi đã giục lòng tin cậy Chúa hơn cả đời tôi vậy.”
Chị không còn được “đức tin soi sáng an ủi”. Tức là không còn phần thưởng cảm xúc. Không còn thấy dễ. Không còn thấy sáng. Không còn thấy gần. Nhưng chị vẫn “làm việc đức tin dạy”. Và thậm chí, chính trong giai đoạn tối nhất đó, chị lại “giục lòng tin cậy Chúa hơn cả đời”.
Đó là một bước trưởng thành rất lớn của tình yêu.
Khi còn được an ủi, yêu Chúa đã đẹp. Nhưng khi không còn an ủi, không còn cảm giác được yêu, không còn niềm vui thiêng liêng, không còn hình ảnh sáng sủa nào để bám vào, mà vẫn chọn yêu, vẫn chọn ở lại, vẫn chọn tin, thì tình yêu ấy đã đi sang một phẩm chất khác. Nó không còn dựa vào điều mình nhận được. Nó bắt đầu giống tình yêu thật hơn: yêu Chúa vì chính Ngài, chứ không chỉ vì sự ngọt ngào Ngài từng cho mình nếm.
Têrêsa còn nói một câu rất buốt:
“Khi con hát mừng ngợi khen hạnh phúc Thiên đàng, hạnh phúc hưởng thánh nhan Chúa đời đời, con chẳng cảm thấy lòng vui thú chút nào; con hát là hát sự con muốn tin thôi.”
Ở đây, mình thấy gần như toàn bộ vẻ đẹp của đêm tối đức tin. Chị vẫn hát. Nhưng không phải vì lòng đang ngập ánh sáng. Chị hát vì đó là điều chị muốn tin. Chị để ý chí yêu thương đi trước cảm xúc. Chị để tự do trung thành đi trước sự dễ chịu nội tâm. Và chính chỗ đó làm cho đức tin của chị không nhỏ đi, mà lớn lên.
Bởi vậy, nếu phải nói ngắn gọn, mình sẽ nói thế này: đêm tối theo thánh Gioan Thánh Giá là lúc Chúa thanh luyện linh hồn; còn trong chính đêm đó, ma quỷ như con rắn luôn chực sẵn để len vào suy nghĩ, hình ảnh và nỗi sợ, mong làm linh hồn bỏ cuộc. Têrêsa đã đi qua đúng vùng ấy. Chị bị đánh vào hy vọng, vào cảm thức được yêu, vào trí tưởng tượng, vào khả năng cầu nguyện. Nhưng chị đã không đầu hàng. Không phải vì chị luôn cảm thấy mạnh, mà vì ngay khi không còn được an ủi, chị vẫn quyết định ở lại với Chúa.
Và có lẽ, đó là điều làm chị gần với Gen Z hôm nay đến vậy. Nhiều bạn trẻ cũng đang sống trong những kiểu “đêm tối” riêng: không còn cảm được Chúa, không còn thấy cầu nguyện “vào”, không còn chắc mình được yêu, không còn biết có nên tin tiếp không. Nếu đọc Têrêsa đủ kỹ, các bạn sẽ thấy: cảm giác tối không có nghĩa là đức tin đã chết. Có khi, đó chính là nơi đức tin đang bị thử lửa...
Và nếu giữa lúc ấy, bạn vẫn chọn không bỏ Chúa, vẫn chọn quay về phía Ngài, vẫn chọn yêu dù không còn được nâng bởi cảm xúc, thì có khi bạn đang trưởng thành trong tình yêu hơn mình tưởng...
Chúc các bạn sẽ trưởng thành, mạnh mẽ trong Chúa như cô gái 24 tuổi -Têrêsa đã mở lối cho chúng ta đi.
-John Phạm-

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét