Tập 6: Thành đô nào sẽ còn lại?
(Series viết về Augustino thành Hippo · Tiến sĩ Hội Thánh thứ 2)
Bạn có bao giờ bị đổ lỗi cho thứ gì đó mà bạn không gây ra không?
Không phải bị đổ lỗi nhỏ. Mà bị đổ lỗi trước đám đông, bằng lý lẽ nghe có vẻ hợp lý, bởi những người đang đau và cần tìm kẻ chịu tội.
Mùa hè năm 410, điều đó xảy ra với cả một tôn giáo.
Ngày 24 tháng 8 năm 410. Quân Visigoth của Alaric phá cổng thành Roma.
Không phải một tỉnh biên giới. Không phải một thành phố nhỏ. Là Roma, thành phố mà người ta tin rằng sẽ đứng mãi mãi. Thành phố có câu châm ngôn: Roma Aeterna, Roma vĩnh cửu. Thành phố mà suốt 800 năm không có kẻ thù nào bước qua cổng thành.
Alaric vào. Ba ngày. Cướp phá kho bạc, cung điện, đền thờ. Rồi rút.
Chỉ ba ngày, nhưng thế giới cổ đại chưa bao giờ hồi phục lại sau ba ngày đó.
Alaric không phải kẻ man rợ muốn phá hủy văn minh.
Alaric là thủ lĩnh người Visigoth, một bộ tộc Germanic đã sống trong và quanh biên giới đế quốc Roma nhiều thế hệ, chiến đấu cho Roma như lính đánh thuê, học tiếng Latin, theo Kitô giáo. Alaric bản thân là Kitô hữu. Ông muốn một thứ duy nhất: đất để dân ông định cư, và chức vụ chính thức trong quân đội Roma, thứ ông chiến đấu cả đời để được thừa nhận.
Roma không chịu.
Không phải vì họ không thể. Mà vì họ không muốn thừa nhận người ngoài là như người Roma. Alaric đàm phán nhiều năm. Bị khước từ. Đàm phán lại. Bị khước từ. Hoàng đế Honorius, một người đàn ông ẩn náu sau tường thành Ravenna cách Roma cả ngày đường, từ chối tiếp. Từ chối thương lượng. Từ chối cả khi Roma đã bị bao vây và đang chết đói.
Alaric cuối cùng làm điều ông không muốn làm. Ông phá cổng thành.
Thánh Jerome, đang ngồi viết ở Bethlehem khi tin đến, viết xuống một câu: "Thành phố đã chinh phục cả thế giới, chính nó bị chinh phục." Ông viết rồi không viết thêm gì trong nhiều ngày.
Người ta chạy khắp nơi.
Quý tộc La Mã mất dinh thự, linh mục mất nhà thờ, gia đình mất tất cả. Họ xuống tàu ở cảng Ostia, cùng cảng mà Monica đã chết 23 năm trước, rồi vượt Địa Trung Hải sang Bắc Phi. Hàng ngàn người. Mang theo không nhiều hơn những gì vác được trên lưng.
Và một câu hỏi mà không ai nói thành lời nhưng ai cũng đang mang:
Nếu Roma cũng có thể sụp đổ, thì còn thứ gì đứng vững được?
Nhưng câu hỏi đó chưa phải câu nguy hiểm nhất với người Kitô giáo.
Câu nguy hiểm nhất đến từ những người không chạy, những người ở lại Roma, những người vẫn còn thờ các thần cũ, những người nhìn đống đổ nát và nói thẳng vào mặt người Kitô giáo:
Tại các người.
Để hiểu tại sao lời đó đau đến vậy, cần biết Roma lúc đó trông như thế nào.
Đế quốc Roma đã theo Kitô giáo chính thức từ năm 380, chỉ 30 năm trước khi Roma thất thủ. Trước đó, Roma thờ một hệ thống thần linh phức tạp: Jupiter, cha của các thần, người bảo hộ thành Roma; Mars, thần chiến tranh; Vesta, nữ thần bếp lửa và sự vĩnh cửu của thành phố. Có những lễ nghi, đền thờ, tế tự đã được thực hiện liên tục hàng trăm năm, và theo người La Mã tin, chính vì những nghi lễ đó mà Roma hùng mạnh và đứng vững.
Kitô giáo trở thành quốc giáo, các đền thờ bị đóng cửa, các lễ tế bị cấm. Giới quý tộc La Mã truyền thống, những gia đình đã thờ Jupiter suốt nhiều thế hệ, vừa mất tôn giáo, vừa mất địa vị, vừa chứng kiến đế quốc bắt đầu lung lay.
Rồi Roma sụp trong ba ngày.
Nhà sử học ngoại giáo Zosimus viết thẳng: "Kitô giáo, bằng cách từ bỏ các nghi lễ cổ truyền, đã làm suy yếu các đức hạnh chính trị của đế quốc và khiến các thần không còn che chở nữa."
Lý lẽ đơn giản, tàn nhẫn, và, với người đang đau và hoang mang, nghe rất hợp lý: Roma vĩ đại khi còn thờ Jupiter. Roma sụp khi bỏ Jupiter. Kết luận tự nó mà ra.
Và không phải chỉ người ngoại giáo hoang mang. Ngay cả người Kitô hữu cũng bắt đầu tự hỏi: nếu Thiên Chúa là Chúa của lịch sử, tại sao Ngài để thành của thánh Phêrô và Phaolô bị cướp phá? Tại sao nhà thờ bị đốt, phụ nữ Kitô hữu bị hành hung, thánh tích bị lấy đi?
Hippo Regius. Bờ biển Bắc Phi.
Augustinô lúc này 56 tuổi. Mái tóc bạc phần lớn. Hai mươi năm làm Giám mục, hai mươi năm giảng dạy, xét xử tranh chấp, viết thư, đi đây đi đó trong nắng bụi. Ông đã nghĩ ông biết mệt mỏi là gì.
Người tị nạn bắt đầu đổ vào thành phố ông. Ông gặp họ. Nghe họ. Giảng cho họ, bài giảng còn lưu lại đến hôm nay, ghi chép bởi những người ngồi dưới nghe và viết tốc ký. Trong những bài giảng đó, ông không nói những câu an ủi sáo rỗng. Ông nói thẳng rằng ông hiểu tại sao người ta đau, tại sao người ta hoang mang, tại sao câu hỏi "Thiên Chúa ở đâu?" lại bật ra lúc này.
Rồi một linh mục trẻ tên Marcellinus, thông minh, được Augustinô tin tưởng, đang chới với trước làn sóng câu hỏi từ người ngoại giáo, viết thư. Không hỏi thần học trừu tượng. Hỏi thật:
Làm sao trả lời khi người ta nói Kitô giáo phá hủy Roma? Thầy nói gì bây giờ?
Augustinô đọc thư. Ngồi yên.
Rồi bắt đầu viết.
Không phải viết một bài. Không phải viết một cuốn mỏng để phát nhanh trong khủng hoảng.
Ông viết De Civitate Dei, Thành Đô Thiên Chúa. 22 quyển. 13 năm.
Ông bắt đầu năm 413. Khi ông viết những trang đầu tiên, Marcellinus, người viết thư hỏi ông, vừa bị xử tử vì một tội danh chính trị mà Augustinô tin là dựng đứng. Ông viết phần đầu cuốn sách như viết cho người không còn sống để đọc nó.
Augustinô không bảo vệ Roma. Đó là điều người ta hay bỏ qua.
Ông không nói "Roma vĩ đại và Kitô giáo không có lỗi." Ông làm thứ ngược lại hoàn toàn, ông đồng ý rằng Roma sụp, rồi hỏi: tại sao điều đó lại là vấn đề?
Ông mở lại chính sử Roma và chỉ ra: Jupiter chưa bao giờ bảo vệ Roma. Người La Mã tự bảo vệ mình, bằng quân đội, kỷ luật, luật pháp. Và ngay trong thời đỉnh cao, khi Jupiter còn được thờ đầy đủ, thành phố cũng đã từng bị đốt, bị cướp, bị phá. Cicero, chính nhà hùng biện mà Augustinô đọc từ năm 19 tuổi, đã than thở về sự mục nát của Roma từ bốn thế kỷ trước khi Alaric ra đời.
Vấn đề không phải Kitô giáo phá hủy Roma. Vấn đề là Roma đã mang mầm hủy diệt từ trong lòng mình, từ libido dominandi, cái ham muốn thống trị làm nền tảng cho mọi thứ La Mã xây lên.
Nhưng đó chỉ là phần đập đổ, ... bảy quyển đầu.
Mười lăm quyển còn lại, Augustinô xây lên thứ khác.
Ông nói: trong toàn bộ lịch sử nhân loại, có hai thành đô tồn tại song song, không phải trên bản đồ, mà trong lòng người.
Thành đô thứ nhất được xây bằng amor sui, tình yêu bản thân, đặt mình làm trung tâm. Nó có thể to lớn, hùng mạnh, đẹp đẽ. Roma thuộc về thành đô này. Đế quốc Babylon trước đó cũng vậy. Và mọi thứ được xây bằng amor sui, dù hùng mạnh đến đâu, đều sẽ sụp đổ. Vì nó được xây bằng thứ hữu hạn.
Thành đô thứ hai được xây bằng amor Dei, tình yêu Thiên Chúa, đặt điều vĩnh cửu làm trung tâm. Thành đô đó không có thủ đô. Không có hoàng đế. Không có ranh giới địa lý. Nó tồn tại trong những người, trong bất kỳ đế quốc nào, bất kỳ thế kỷ nào, chọn sống không phải vì vinh quang của mình mà vì điều gì đó lớn hơn mình.
Câu hỏi không phải tại sao Roma sụp?
Câu hỏi là: bạn đang xây cuộc đời mình trên thành đô nào?
Augustinô viết Thành Đô Thiên Chúa không phải trong thư phòng yên tĩnh.
Ông viết buổi tối sau khi xét xử tranh chấp giáo dân ban ngày. Ông viết sáng sớm trước khi tiếp khách. Song song với đó, ông đang tranh luận với người Donatist về bản chất Hội Thánh, một cuộc tranh luận kéo dài hàng chục năm, với thư từ qua lại dày như sách. Song song với đó, ông đang đáp trả Pelagius về ân sủng và tự do ý chí, cuộc tranh luận thần học lớn nhất của thế kỷ 5, và Augustinô đứng ở tâm điểm.
Không có sabbatical. Không có "tháng tập trung sáng tác."
13 năm. Song song với tất cả những thứ đó.
Ông không viết vì có thời gian. Ông viết vì có câu hỏi cần được trả lời, và không ai khác lúc đó đủ công cụ để trả lời nó.
Năm 426. Augustinô 72 tuổi.
Mắt đã kém, tay đã chậm, ông không còn tự viết mà đọc cho thư ký chép. Có những buổi sáng ông đọc chậm hơn bình thường, dừng lại giữa câu, rồi nói tiếp, như người đang cân nhắc từng chữ một lần cuối trước khi thả ra.
Ông viết dòng cuối cùng của quyển 22. Nhìn lại toàn bộ, dày bằng một đời người. Rồi viết lời kết:
"Đây là tác phẩm tôi đã hoàn thành với sự trợ giúp của Chúa Kitô. Ai yêu thích nó, hãy cảm ơn Ngài. Ai thấy nó không đủ, hãy tha lỗi cho tôi. Ai thấy nó có lỗi, hãy sửa lại."
Không phải kết thúc của người muốn được nhớ đến.
Là kết thúc của người đã nói xong điều mình cần nói. Và đặt nó xuống.
Bốn năm sau. Năm 430.
Người ta gọi họ là Vandal, một bộ tộc Germanic khác, xuất phát từ vùng đất nay là Ba Lan và Đức, di cư qua Gaul, qua Tây Ban Nha, rồi năm 429 vượt eo biển Gibraltar sang Bắc Phi dưới sự chỉ huy của vua Gaiseric. Họ không đến để du lịch. Họ đến để lấy đất, những vùng đất nông nghiệp trù phú nhất còn lại của đế quốc, vựa lúa mì nuôi cả Roma.
Gaiseric hành quân dọc bờ biển Bắc Phi từ tây sang đông. Thành phố nào không chống cự thì bị cướp. Thành phố nào chống cự thì bị vây. Năm 430, quân Vandal đến trước cổng Hippo Regius.
Không ai ngờ chiến tranh đến tận đây.
Hippo là thành phố cảng, có tường thành, có quân đồn trú. Nhưng quân Vandal vây từ đất liền lẫn biển, không để người vào, không để lương thực vào. Trong thành, hàng nghìn người tị nạn từ các tỉnh bị chiếm đã chen chúc từ trước. Thêm bao vây bên ngoài. Giám mục Possidius của thành phố láng giềng, người sau này viết tiểu sử Augustinô, chạy vào Hippo trú ẩn và chứng kiến tất cả từ bên trong.
Augustinô lúc đó đang hấp hối.
Ông đã yêu cầu chép các Thánh Vịnh thống hối lên giấy lớn và dán quanh tường phòng, để nằm trên giường vẫn đọc được, đọc cho đến khi không còn đọc được nữa. Ông nằm nhìn lên tường. Đọc. Khóc. Đọc tiếp.
Bên ngoài cửa sổ, tiếng vây hãm vọng vào. Thành phố ông làm Giám mục 35 năm đang chờ ngày thất thủ.
Ông mất ngày 28 tháng 8 năm 430. Hippo giữ được thêm hơn một năm sau khi ông chết, rồi thất thủ. Thư viện của ông, hàng trăm cuốn sách và hàng nghìn lá thư, được mang ra ngoài trước khi lửa vào.
Thành đô thứ nhất, đúng như ông đã viết, lại sụp thêm một lần.
Nhưng ông không thấy nó sụp.
Ông đã đi rồi...!!!
(Còn tiếp...)
- John Phạm-
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét