Trang

Thứ Hai, 1 tháng 6, 2020

Đức Maria – Mẹ Giáo hội

Đức Maria – Mẹ Giáo hội

 
  •  
  •  
Đức Maria – Mẹ Giáo hội
Michael R. HeinleinVăn Việt chuyển ngữ từ simplycatholic.com
WHĐ (31-05-2020) – Vào ngày 11 tháng 2 năm 2018, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã quyết định thêm vào lịch chung Rôma một lễ mới về Đức Mẹ, lễ Đức Maria - Mẹ Giáo hội. Trước đây lễ này đã được cử hành ở cấp độ địa phương tại một số giáo phận và dòng tu. Bây giờ lễ này được cử hành trong toàn thể Giáo hội hoàn vũ, và được ghi trong Nghi thức Sách Lễ Rôma. Lễ mới này không có ngày cố định trong năm Dương lịch, vì nó phụ thuộc vào chu kỳ lễ Phục sinh. Lễ được cử hành vào ngày thứ Hai sau Chúa Nhật lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống.
Người ta có thể tự hỏi danh hiệu mới này của Đức Maria có nghĩa gì? Và tại sao chúng ta mừng lễ này? Như câu thành ngữ cổ: “de Maria numquam satis” (về Đức Maria, thì nói không bao giờ đủ). Lý do theo nhà Thánh Mẫu học, Linh mục Hugh Rahner, SJ, giải thích là vì “bất cứ điều gì được nói về sự khôn ngoan vĩnh cửu của Thiên Chúa, đều có thể được áp dụng theo nghĩa rộng đối với Giáo hội, theo nghĩa hẹp hơn đối với Đức Maria, và theo một cách cụ thể đối với mọi tâm hồn tín hữu.”
Có nhiều ý nghĩa thần học từ việc thiết lập lễ nhớ này. Những ý nghĩa đó bắt nguồn từ việc nhận biết Giáo hội là Thân thể của Chúa Kitô và vai trò của Đức Maria trong đời sống các tín hữu.
Vai trò của Đức Maria
Đức Thánh Cha Phaolô VI đã chính thức dành cho Đức Maria danh hiệu “Mẹ Giáo hội” khi bế mạc kỳ họp thứ III của Công Đồng Vatican II, vào năm 1964. Truy nguyên về nguồn gốc từ thế kỷ thứ IV với Thánh Ambrôsiô, thì tước hiệu “Mẹ Giáo Hội” gợi lên mẫu tính thiêng liêng của Đức Mẹ, một đặc tính gắn liền với bản tính của Giáo hội.
Phần lớn quan điểm Giáo hội học của Công Đồng Vatican II, đặc biệt trong Hiến chế về Giáo hội (Lumen Gentium), được phát triển nhờ sự nhận biết cách phong phú về quan điểm thần học của Thánh Phaolô. Trong đó, các tín hữu nhận biết sự liên kết giữa họ với Đức Kitô như là chi thể trong thân thể mầu nhiệm của Ngài. Thánh Phaolô đã nói rõ ràng và hùng hồn về chân lý này, và đây cũng là chân lý mà Thánh Phaolô nhận biết trước tiên sau khi trở lại. Khi bị ngã xuống đất và bị mù lòa, Phaolô - Kẻ bắt bớ Kitô giáo lúc đó – nghe thấy một giọng nói hỏi mình: “Saul, Saul, tại sao ngươi lại bắt bớ Ta? (Cv 9: 4). Qua câu nói này, rõ ràng Đức Kitô đã xác định mối hiệp nhất nên một giữa Ngài với những người theo Ngài. Cả hai cùng tạo thành một khối, một thể thống nhất – đó là những gì mà Thánh Augustinô sau này mô tả là “Chúa Kitô toàn thể” (totus Christus) – vì Đức Kitô và người được rửa tội là một thân thể.
Thánh Augustinô đã áp dụng chân lý này vào bối cảnh Thánh Mẫu học một cách rất thích hợp: Đức Maria là “mẹ của những chi thể thuộc về Đức Kitô... những ai tin vào Ðức Kitô, vì được kết hợp chặt chẽ với Người, nhất là trong Bí tích Thánh Thể, thì cũng kết hợp với nhau nhờ đức ái, tạo thành một thân thể duy nhất là Giáo hội, có Đức Kitô là đầu... Đức Maria đã sinh ra Người Con Một, và Giáo hội sinh ra những người mà nhờ Người Con Một mà nên một”.
Vì Đức Maria là mẹ của Đức Kitô, và chúng ta là chi thể của thân thể Đức Kitô – tức Giáo hội – nên chúng ta cũng là con của Đức Maria. Lễ nhớ mừng mẫu tính của Đức Maria đối với Giáo hội được cử hành hàng năm là dịp để suy ngẫm về chân lý rất ý nghĩa này và những hệ lụy từ đó. Và cũng vì tầm quan trọng của mối liên hệ mẫu tính của Đức Maria đối với Giáo hội mà những nghị phụ của Công Đồng Vatican II đã quyết định để phần suy tư dài về Đức Maria ở trong Hiến chế về Giáo hội (Lumen Gentium), chớ không tách ra để viết thành một tài liệu riêng về Đức Mẹ.
Mẫu gương và sự trợ giúp cho Giáo hội
Sự liên kết của Đức Maria với Con mình là không thể tách rời. Lễ nhớ mới này cũng thúc đẩy lòng sùng kính Đức Mẹ, bởi vì lễ này giúp chúng ta hướng về Đức Mẹ là mẫu gương cho cả nhân loại, đặc biệt là các tín hữu. Mẹ là chi thể “ưu tú nhất... và nguyên tuyền nhất của Giáo hội” (LG, số 53).
Thiên chức làm mẹ của Đức Maria được tìm thấy trong sự vâng lời, đức tin, đức cậy và đức ái của Mẹ. Những đặc điểm này là mảnh đất màu mỡ, ở đó Lời Chúa được gieo vào và trổ sinh sự sống dồi dào. Sự sống siêu nhiên đã đến với thế giới qua tiếng thưa “xin vâng” của Mẹ. Đó là tiếng thưa đem lại sự sống mới cho thế giới. Do đó, Đức Maria là Evà mới. Như sự chết đã đến thế giới qua Evà củ thế nào, thì sự sống đã đến thế giới qua Evà mới như vậy.
Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã tuyên bố rằng, “với mẫu tính trong Chúa Thánh Thần, Đức Maria ôm lấy từng người trong Giáo hội, và ôm lấy từng người qua Giáo hội. Theo nghĩa này, Đức Maria – Mẹ Giáo hội cũng là gương mẫu của Giáo hội” (Redemptoris Mater, số 47).
“Ðức Maria đã cộng tác cách rất đặc biệt vào công trình của Ðấng Cứu Thế, nhờ lòng vâng phục, nhờ đức tin, đức cậy và đức ái nồng nhiệt, để tái lập sự sống siêu nhiên cho các linh hồn.” (LG, số 61). Vì toàn bộ cuộc đời của Đức Maria là một niềm ước mong của các tín hữu, nên Đức Mẹ lôi cuốn chúng ta đến với ơn cứu rỗi. Đồng thời, qua tấm gương và sự chuyển cầu từ thiên đàng, Đức Mẹ giúp chúng ta vượt qua tội lỗi và biết làm điều tốt. Mẹ không mong muốn gì khác hơn, ngoài ước mong dẫn chúng ta đến với Con của Mẹ.
Sự mẫu mực trong đức vâng phục, đức tin, đức cậy và đức ái được tỏ bày nơi Đức Maria cũng cần được tỏ bày nơi các Kitô hữu. Hay nói một cách đơn giản như Chúa Giêsu: “Đúng hơn phải nói: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa” (Lc 11:28).
Nhờ sự vâng lời của Đức Maria, Giáo hội có một gương mẫu để sống theo ý muốn của Chúa Cha. Nhờ đức tin của Mẹ, Giáo hội học được cách đưa Đức Kitô đến với thế giới. Nhờ đức cậy của Mẹ, Giáo hội học được cách trông cậy vào Chúa (xem Tv 130: 5). Và nhờ đức ái của Mẹ, Giáo hội học được con đường cứu rỗi.
Các Kitô hữu đã hướng về Đức Maria vì những ân sủng đặc biệt và sự chuyển cầu từ thiên đàng của Mẹ trong suốt nhiều thế kỷ, “đã được Giáo hội kêu cầu với nhiều danh hiệu như Trạng Sư, vị Bảo Trợ, Ðấng Phù Hộ và Ðấng Trung Gian” (LG, số 62). Việc thiết lập lễ Đức Maria – Mẹ Giáo hội mang đến một cơ hội nữa cho các chi thể trong thân thể Con của Mẹ, hân hoan kêu cầu trong tình yêu mẹ hiền của Mẹ - Đấng là gương mẫu và sự trợ giúp của chúng ta.

Đức Mẹ Maria, Mẹ Giáo Hội

Đức Mẹ Maria, Mẹ Giáo Hội
Lm. Đaminh Nguyễn Ngọc Long
 
Từ năm 2018 trong nếp sống phụng vụ của Giáo Hội Công Giáo, vào ngày thứ hai, sau ngày Chúa nhật lễ trọng mừng kính Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống là ngày lễ kính nhớ Đức Mẹ Maria, mẹ Giáo Hội.

Đâu là lịch sử nguồn gốc truyền thống đạo giáo lòng sùng kính Đức Mẹ Maria, mẹ Giáo Hội?

Ngay từ thời Thánh Giáo phụ Ambrosio, Giám mục thành Milano ( 339/397) đã có danh hiệu xưng tụng „ Đức Mẹ Maria là mẹ Giáo hội“ trong thần học và trong nếp sống đạo đức bình dân rồi. Như ở bên đất nước Argentina và Polen cùng nhiều Dòng tu nếp sống đạo đức xưng tụng Đức Mẹ Maria là mẹ Giáo Hội đã có truyền thống từ những thế kỷ trước rồi.

Năm 1964 Đức Thánh Cha Phaolô VI., bây giờ là vị Thánh trong Giáo hội, đã chính thức tuyên xưng Đức Mẹ Maria với danh hiệu là mẹ Giáo hội giữa khung cảnh Công đồng Vatican II. ở đền thờ Thánh Phero bên Vatican.

Năm 1980 Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II., bây giờ là vị Thánh trong Giáo hội, đã thêm vào Kinh cầu Đức Mẹ Maria câu xưng tụng“ Đức Mẹ Maria là mẹ Giáo hội“.

Năm 1986 trong sách lễ về những ngày lễ kính Đức Mẹ có lời nguyện thánh lễ ngày lễ kính “ Đức Mẹ Maria, Đấng là hình ảnh khởi thủy và là mẹ Gíao hội.“.

Đức Thánh Cha Benedicktô XVI. đã bày tở về vai trò Đức Mẹ Maria, người mẹ sự sống, mẹ Giáo hội như sau:

Peter Seewald:„ Maria được kịnh nhớ như nữ vương thiên đình, như Nguyên ảnh của Giáo hội, hay cũng như Mẹ của lòng nhân ái. Lực tỏa sáng của người nữ đó, đấng vẫn luôn dấy động tâm can hàng triệu con người, không thể nào đong đo bằng tiêu chuẩn thường tình được.

Đức Giáo Hoàng Benedictô VI.: „Trong lịch sử, biến cố mẹ Maria càng ngày cũng được hiểu như là nét vẻ vang của phụ nữ. Bản chất nguyên thủy của phụ nữ được biểu hiện nơi Maria, ngài là hiện thân sự tinh tuyền của nhân loại và Giáo hội. Và trong khi Eva - người phụ nữ đầu tiên và là „ nguyên mẫu“, như người ta vẫn nói, và là người mẹ của mọi loài sống động được sinh ra trên căn bản để chết, thì Maria - nhờ sinh ra đấng cứu thế, đấng đã phục sinh và mang lại sự sống - thật sự được coi như là sự thể tinh tuyền hai yếu tố hàm chứa trong chữ Eva, đó là niềm hứa hẹn và khả năng sinh sản của người nữ. Maria trở thành mẹ của sự sống, của mhững gì trao ban sự sống và của mọi loài sống động.“ (Joseph Ratzinger Biển Đức XVI., Gott und die Welt -Thiên Chúa và trần thế, Tin và sống trong thời đại ngày nay, Trao đổi với Peter Seewald, 2000, Phong trào Giáo Dân Việt nam hải ngoại 2008, trang 302).

Năm nay ngày 01.06.2020 lễ kính nhớ Đức Mẹ Maria, mẹ Giáo Hội vào mùa bệnh đại dịch Corona lây lan đe dọa sức khoẻ đời sống con người. Bệnh đại dịch lây lan trên khắp thế giới, nên những sinh hoạt đạo đức tôn giáo bị đình trệ ngưng lại hay bị giới hạn : không thánh lễ Misa, không thánh đường, không dâng hoa kính Đức Mẹ Maria như truyền thống xưa nay…

Nhưng dẫu vậy, người tín hữu Chúa Giêsu Kitô vẫn luôn hằng giữ đức tin sống động vào Thiên Chúa, nguồn ơn chữa lành, qua việc đọc kinh lần hạt, xin Đức Mẹ cầu bầu cùng Chúa cho Giáo hội, cho trần gian được bằng an mạnh khoẻ mau thoát khỏi tai nạn bệnh dịch đe dọa nguy hiểm này.

Không chỉ những sinh hoạt chính trị kinh tế, thể thao văn hóa xã hội gặp khủng hoảng nặng trầm trọng, nhưng cả trong chính lòng Giáo Hội nữa. Giáo Hội không chỉ vướng trở trong khủng hoảng về niềm tin, về giáo lý về truyền thống, và cả nơi cấu trúc tổ chức. Cách chung sự tin tưởng vào Giáo hội Chúa ở trần gian, nhất là ở u Châu, xưa nay là nôi của văn minh Kitô giáo, nôi của Giáo Hội Công Giáo hoàn cầu, đang trong bước đường bị hoài nghi đặt thành vấn nạn.

Điều này xảy ra không chỉ nơi những người giáo dân bình thường, nhưng nảy sinh ngay trong chính hàng ngũ lãnh đạo như đại đa số các vị Giám Mục ở nước Đức. Con đường Công nghị ở Giáo hội nước Đức là một thí dụ điển hình nói lên sự khủng hoảng vào Giáo hội rõ nét nhất. Vì Con đường công nghị muốn bàn cãi đặt thành vấn đề mổ xẻ những truyền thống xưa nay trong đời sống Giáo Hội, như giáo lý về tính dục, như vai trò người phụ nữ trong Giáo hội được làm linh mục, như thẩm quyền cai trị Giáo hội cần phải được chia sẻ cho với người giáo dân, như đời sống độc thân của giáo sỹ có còn thích hợp nữa hay không…

Ngoài ra đai dịch Corona năm nay còn gây ra tình trạng khủng hoảng thâm thủng khá trầm trọng về tài chính cho Giáo hội trung ương Vatican cũng như cho Giáo hội ở các nước địa phương.

Có suy nghĩ cho rằng sau cơn đại dịch Corona, Giáo hội còn phải đối mặt với làn sóng khủng hoảng khác là sẽ có ít đi số người đến thánh đường dâng thánh lễ nữa, sự lơ là với việc tiếp nhận các Bí Tích...

Nên lòng sùng kính cầu xin Đức Mẹ Maria, mẹ Giáo hội giúp con thuyền Giáo hội trần gian vượt qua cơn khủng hoảng, là điều cần thiết hơn khi nào hết.

„ Đức Mẹ là mẹ Giáo hội! Cầu cho chúng con.

Lm. Đaminh Nguyễn ngọc Long

Vietcatholic News

Chúa Thánh Thần: Trình thuật theo Phúc Âm và 7 Phép Bí Tích

Chúa Thánh Thần: Trình thuật theo Phúc Âm và 7 Phép Bí Tích
Đinh Văn Tiến Hùng
 
Lễ Kính Chúa Thánh Thần Hiện Xuống 31/5/20.
“ Ta cầu xin Đức Chúa Cha, Người sẽ ban Đấng khác từ trời xuống với các con, và ở cùng các con luôn, vì đó là Đấng Thánh Linh” (Yn. 14: 16)

Trước khi về trời, Chúa đã hứa cùng các môn đệ rằng: “ Vậy các ngươi hãy đi thâu nạp môn đồ khắp muôn dân, thanh tẩy chúng nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Dạy chúng hết mọi điều Ta đã truyền cho các ngươi. Và này Ta sẽ ở với các ngươi mọi ngày cho đến tận thế.

( Mt. 28: 18- 20)

Như thế, chính Chúa Giêsu đã dạy chúng ta về Thiên Chúa Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Nhưng Ba Ngôi chỉ là một Thiên Chúa độc nhất, thánh thiện, trọn hảo, thông biết mọi sự, quyền phép vô biên và hằng có đời đời.

Thiên Chúa duy nhất lại có Ba Ngôi, là một tín lý mầu nhiệm cao trọng của Đức Tin Kitô Giáo.

‘Vô tri bất mộ’ không hiểu thì không yêu. Vì vậy, người viết với kiến thức hạn hẹp, không đủ khả năng đi sâu vào thần học diễn tả về Chúa Thánh Thần. Nhưng cố gắng tìm hiểu qua Phúc Âm và các Nhiệm Tích Thánh mong học hỏi thêm, để yêu mến, cảm tạ hồng ân Thiên Chúa đã ban cho ta ‘ Tặng phẩm tuyệt hảo vô giá’ là chính Chúa Thánh Linh.

Ta thường hiểu một cách tổng quát về Thiên Chúa Ba Ngôi qua các biểu tượng :

- Chúa Cha là Vị Quan toà uy nghiêm chính trực.

- Chúa Con là Vị Mục Tử nhân lành khoan dung.

- Chúa Thánh Thần như chim Bồ Câu thanh khiết, Lưỡi Lửa Tình Yêu. Trong Phúc Âm các Thánh Sử còn gọi Ngài là Thánh Linh, Thần Khí, Đấng Bầu Chữa, Đấng Phù Trợ.

Đối với ta, Chúa Cha quá cao xa quyền thế- Chúa Con gần gũi ta hơn vì đã hạ sinh làm người

cứu chuộc tội lỗi nhân loại- Còn Chúa Thánh Thần xem ra mông lung huyền nhiệm. Nhưng đây là Mầu nhiệm Đức Tin, ta phải tin dù không thể hiểu được. ( Giống như câu truyện Thánh Augustinô suy niệm về Chúa Ba Ngôi còn khó hơn cậu bé muốn múc hết nước biển đổ vào một lỗ nhỏ )

Nhân Lễ Kính Chúa Thánh Thần, ta hãy tìm hiểu sự hiện hữu của Chúa Thánh Thần qua Phúc âm 4 Thánh Sử: Máthêu, Luca, Mac-cô và Gioan.

* CHÚA THÁNH THẦN TRONG PHÚC ÂM 4 THÁNH SỬ:

Trong Phúc âm có nhiều chỗ nhắc đến chính Chúa Giêsu dạy cho ta biết về Chúa Thánh Thần.

- Chúa nói với ông Nicôđêmô: “ Thật Ta bảo thật ông, không ai có thể vào nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi Nước và Thần Khí “ (Yn.3: 5)

- Thiên Chúa hiện ra với Zacarya và báo tin Gioan Tiền Hô sẽ sinh ra: “ Zacarya đừng sợ! Vì lới ngươi đã được nhận và Elisabeth vợ ngươi sẽ sinh cho ngươi một con trai, ngươi sẽ đặt tên là Gioan. Ngươi sẽ hoan hỉ và nhiều người sẽ vui mừng và đứa trẻ sẽ làm lớn trước mặt Thiên Chúa. Rượu chua, chất say sẽ không hề uống và ngay từ trong lòng mẹ sẽ được đầy Thánh Thần.

( Mc. 1: 13- 15)

- Maria đã đính hôn với Giuse, trước khi hai ngưới về sống chung, Maria đã có thai do quyền linh Chúa Thánh Thần. Giuse là người công chính, không muốn tố giác Maria đã âm thầm bỏ đi. Nhưng Thiên Sứ đã bảo Ông trong giấc chiêm bao: “ Giuse con Davít! Chớ sợ rước Maria về nhà. Thai nhi nơi Bà là do tự nơi Thánh Thần. Bà sẽ sinh Con Trai và Ông sẽ đặt tên là Giêsu và chính Ngài sẽ cứu dân Ngài khỏi tội lỗi.” ( Mt. 1: 18- 20)

- Thiên Thần được Thiên Chúa sai đến 1 thành xứ Galilêa tên là Nazareth đến với Trinh Nữ Maria đã đính hôn với 1 người tên là Giuse, thuộc dòng Davit. Thiên Thần chào Maria: “ Hãy vui lên! Hỡi Người đầy ơn phúc! Chúa ở cùng Bà! ….Maria đừng sợ! Vì Người đã được ân sủng nơi Thiên Chúa. Nơi lòng dạ Người sẽ thụ thai và sinh Con Trai, sẽ đặt tên là Giêsu. Ngài sẽ làm lớn được gọi là Con Đấng Tối Cao. Thiên Chúa sẽ ban cho Ngài ngai Davit và làm vua nhà Yacob đến đời đời, vương quyền Ngài sẽ vô cùng tận. Maria thưa với Thiên Thần rằng “ Điều ấy sẽ làm sao được, vì tôi không nghĩ tới việc phu thê” Nhưng Thiên Sứ đáp lại lời Bà: “ Thánh Thần sẽ đến trên Bà và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên Bà. Bởi thế Con Trẻ sắp sinh ra sẽ được gọi là Thánh, là Con Thiên Chúa. (Lc.1: 26-35)

- Bấy giờ Chúa Giêsu rời Galilêa đến với Gioan bên sông Yordan để được thanh tảy. Sau khi Chúa chịu phép rửa, Đức Giêsu ra khỏi nước. Lúc ấy trời mở ra và Ngài thấy Thần Khí Thiên Chúa là Chim Bồ Câu đáp xuống trên Ngài và tiếng từ trời phán: “ Đây là Con Chí ái Ta, Kẻ mà Ta yêu mến! “ (Mt.3: 17)

- Theo Phúc Âm Thánh Mác-cô, ngay sau khi Chúa chịu phép rửa, Thần Khí đưa Ngài vào sa mạc và Ngài ở đó 40 ngày chịu Sa-tan cám dỗ. Ngài ở giữa dã thú và các Thiên Thần hầu hạ. (Mc. 1:12-13)

- Khi Chúa chữa lành người qủi ám câm và mù, bọn biệt phái tỏ ra không tin và cho Ngài đã nhờ Bêelzêbul đầu mục qủi mà trừ…Nên Chúa đã lên án nặng nề bọn này đã lộng ngôn xúc phạm đến Chúa Thánh Thần, không thể tha thứ, nên Ngài phán: “ Bởi đó, Ta bảo các ngươi: mọi tội lỗi và lộng ngôn sẽ được tha cho người ta. Còn lộng ngôn đến Thần Khí sẽ không được tha. Ai nói lời nghịch đến Con Người, điều đó sẽ được tha cho người ấy. Còn ai nói nghịch đến Thánh Thần, điều ấy sẽ không tha được cho người ấy, thời này cũng như thời sẽ đến. (Mt. 12: 22- 32)

-Trong diễn từ Chung luận, Chúa dặn các môn đệ: “ Khi người ta dẫn các con đi giao nộp, các con đừng lo toan trước sẽ phải nói những gì, nhưng các con hãy nói điều gì ban cho ngày đó, vì không phải các con nói mà là Thánh Thần. (Mc. 13: 11)

- Vào dịp cuối Đại Lễ Chúa Giêsu hứa ban Thánh Thần và Ngài đứng lên lớn tiếng nói rằng: “Ai khát hãy đến với Ta và hãy uống! Kẻ tin vào Ta như Kinh Thánh đã nói: tự lòng Ngài sẽ có sông tuôn chảy nước trong mát. Điều ấy Ngài nói về Thần Khí, các kẻ tin vào Ngài sẽ lĩnh lấy, vì Thần Khí chưa có, bởi Đức Giêsu chưa được tôn vinh. (Yn. 7: 37- 39)

- Sau khi sống lại Chúa hiện ra với các môn đệ trong phòng đóng kín vì sợ người Do Thái. Họ mừng rỡ vì được thấy Chúa…Ngài nói với họ: “ Bình an cho các con! Cũng như Cha Ta đã sai Ta, Ta cũng sai các con” Ngài thổi hơi trên họ và nói: “Hãy chịu lấy Thánh Thần! Các con tha tội cho ai thì người ấy sẽ được tha, các con cầm giữ ai họ sẽ bị cầm giữ” (Yn. 20: 19- 22)

- Đặc biệt trong Phúc Âm Thánh Gioan, Ngài viết nhiều chương nói về Đấng Bầu Chữa và hoạt động của Chúa Thánh Thần :

- “ Nếu các con yêu mến Ta, các con hãy giữ lệnh truyền của Ta. Ta sẽ xin Cha Ta và Ngài sẽ ban cho các con 1 Đấng Bầu Chữa khác, để ở với các con luôn mãi. (Yn. 14:15- 16)

- “ Ai không mến Ta, thì không giữ lời Ta. Mà lời các con nghe đây không phải là lời Ta, nhưng là của Cha, Đấng đã sai Ta. Các điều ấy Ta đã nói với các con, lúc còn lưu lại với các con. Nhưng Đấng Bầu Chữa Thánh Thần, Cha sẽ sai đến nhân danh Ta, chính Ngài sẽ dạy các con mọi sự và sẽ nhắc các con nhớ lại mọi điều Ta đã nói với các con.” (Yn. 14: 24- 26)

- “ Song Ta nói thật với các con: Ta ra đi thì ích lợi cho các con, vì nếu Ta không ra đi thì Đấng Bầu Chữa không đến với các con. Còn nếu Ta đi, Ta sẽ sai Ngài đến với các con. “ (Yn. 16: 17)

- “ Khi nào Ngài đến vì là Thần Khí sự thật, Ngài sẽ đưa các con vào tất cả sự thật, vì không phải tự mình mà Ngài nói, nhưng nghe gì Ngài sẽ nói ra và Ngài sẽ loan báo cho các con những điều gì sẽ đến. “ (Yn. 16: 13)

* CHÚA THÁNH THẦN TRONG 7 PHÉP BÍ TÍCH:

Chúa Giêsu khi sống nơi trần thế, chính Ngài đã lập các phép Bí Tích để giúp ta nên thánh và cộng tác với Ngài trong việc thánh hoá thế trần.

- Bí Tích: Rửa Tội, Thêm Sức và Thánh Thể là 3 Bí Tích khởi đầu gia nhập Giáo Hội.

- Bí Tích : Hòa Giải và Sức Dầu là hai Bí Tích chữa lành và tăng thêm sức mạnh hồn xác.

- Bí Tích: Hôn Phối và Truyền chức Thánh là 2 Bí Tích gíup ta hiệp thông và phục vụ tha nhân và Giáo Hội.

1-Bí Tích Rửa Tội.

Bí Tích Rửa Tội là Nhiệm Tích Thánh đầu tiên trong 7 Bí Tích Chúa đã lập ra để thanh tảy tâm hồn ta khỏi tội Tổ tông và tội riêng ta phạm, để ban cho ta một đời sống mới đầy ân sủng và trở nên con cái Chúa. Vì thế khi lãnh nhận Phép Rửa Tội là tâm hồn ta đã trở nên đền thờ của Ba Ngôi Thiên Chúa.

Trong thời Giáo Hội sơ khai, chỉ Rửa Tội cho các tân tòng khi mới gia nhập Giáo Hội, nhưng sau này buộc cha mẹ phải cho con trẻ chịu Phép Rửa lúc mới sinh.

Bình thường các Linh Mục và Phó Tế được ban Bí Tích Rửa Tội, nhưng khi khẩn cấp mọi người đều có quyền và có bổn phận làm Phép Rửa theo đúng nghi thức Giáo Hội truyền dạy.

Người khôn lớn muốn nhận Bí Tích Rửa Tội phải: Học Giáo lý tin vào Chúa Kitô- Cải thiện đời sống- và tham dự các nghi lễ gia nhập đạo Công Giáo.

Khi lập Phép Rửa Tội Chúa đã dạy các môn đệ rằng:

“ Ta đã được mọi uy quyền trên trời dưới đất. Các con hãy đi thu nạp môn đệ trên khắp các dân tộc, rửa tội cho họ: nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Ai tin và chịu Phép Rửa sẽ được cứu rỗi, còn ai không tin sẽ bị luận tội. (Mc. 16: 15- 16)

2-Bí Tích Thêm Sức.

Những thế kỷ đầu Giáo Hội, Bí Tích Thêm Sức thường được cử hành ngay sau khi lãnh nhận Phép Rửa Tội. Nhưng sau này thường đợi đến lúc đứa trẻ khôn lớn, hiểu biết hơn về giáo lý mới cho chịu Phép Thêm Sức.

Thường chỉ các Giám mục được quyền ban Thêm Sức, nhưng các Linh Mục được Giám Mục uỷ quyền cũng được cử hành Thêm Sức. Nhưng sách Giáo lý Công Giáo cũng qui định : trong trường hợp bệnh nhân hay người gặp tai nạn nguy đến tính mạng thì bất cứ Linh Mục nào cũng có thể ban Phép Thêm Sức.

Bí Tích Thêm Sức kiện toàn và bổ túc Phép Rửa Tội, tăng Đức Tin mạnh mẽ để can đảm chống lại tội lỗi và ma qủi cám dỗ, cùng cộng tác với Giáo Hội thánh hoá trần thế.

Người lãnh nhận Thêm Sức phải: Học Giáo lý- Sạch tội trọng cùng ước ao lãnh nhận Bí Tích này.

Chịu Phép Thêm Sức ta nhận được 7 ơn Chúa Thánh Thần: ‘ Khôn ngoan- Thông hiểu- Sức mạnh- Đạo đức- Lo liệu- Suy biết và Kính sợ Chúa ‘.

Đúng như ý nghĩa 2 chữ ‘ Thêm Sức’ là củng cố và tăng thêm sức mạnh bởi ơn Chúa Thánh Thần.

Công Vụ Tông Đồ kể rằng: “ Khi hay tin dân Samari đón nhận lời Chúa thì các Tông đồ Gia-liêm liền phái Phêrô và Gioan tới. Các vị này đến Samari và cầu xin cho họ đón nhận Chúa Thánh Thần. Bởi vì Chúa Thánh Thần chưa ngự xuống trong lòng một ai cả, các ông đặt tay trên đầu họ, thì họ liền được đón nhận Chúa Thánh Thần. ( CVTD. 8: 14-17)

3-Bí Tích Thánh Thể.

Theo Tin Mừng Thánh Gioan, chính Chúa Giêsu đã lập Bí Tích Thánh Thể: ‘Bánh bởi trời’ chính là Ngài và ai ăn sẽ được sống đời đời: “Thật Ta bảo thật các ông, nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu Ta, thì được sống muôn đời và Ta sẽ cho người ấy sống lại ngày sau hết, vì Thịt Ta thật là của ăn, Máu Ta thật là của uống (Yn. 6: 53- 55).

Cũng theo Phúc Âm Thánh Luca và Mác-cô: đêm trước khi chịu chết Chúa dùng Bữa Tiệc Ly cùng các Tông Đồ, Ngài đã lập phép Thánh Thể.. Nguời cầm bánh sau khi đọc lời chúc tụng, bẻ ra trao cho các ông mà rằng: “ Các con hãy nhận lấy mà ăn. Này là Mình Ta sắp phải hiến dâng vì các con. Đoạn lại cầm lấy chén rượu nho, tạ ơn Cha, trao cho các Tông Đồ mà phán: các con hãy cùng uống chén rượu này, đó là Máu Ta, Máu của giao ước mới sẽ đổ ra vì các con và muôn ngươi để đền tội thay cho họ. Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta ! “

(Mc. 14: 17- 25 và Lc. 22: 14- 20)

Nhờ Bí Tích Thánh Thể người Tín Hữu được tham dự vào hy lễ của Chúa cùng Cộng đoàn và Giáo Hội- Bí Tích Thánh Thể làm của nuôi linh hồn, tăng sức mạnh để ta chống lại mọi tội lỗi-

Sau cùng nhờ Bí Tích Thánh Thể ban cho ta diễm phúc trường sinh cùng với Thiên Chúa.

Khi Chúa phán: “Hãy làm việc này để nhớ đến Ta!“ là Chúa đã trao cho các Tông Đồ cũng như những người kế vị các Ngài sau này là các Linh Mục được quyền truyền phép Thánh Thể: biến đổi bánh và rượu trở thành Mình và Máu Chúa Giêsu.

Trong Thánh Lễ, sau khi truyền phép Thánh Thể, vị Chủ Tế tay dâng lễ vật lên cao và lớn tiếng đọc kết thúc kinh tế lễ: “ Chính nhờ Người, với Người và trong Người, mọi chúc tụng và vinh quang đều qui về Chúa là Cha Toàn Năng, cùng với Chúa Thánh Thần muôn đời “

4-Bí Tích Hòa Giải.

Buổi chiều ngày Chúa Sống Lại, Ngài hiện ra với các môn đệ và phán: “ Bình an cho các con! Như Cha Ta đã sai Ta thế nào, Ta cũng sai các con như vậy. Nói đoạn Ngài thở hơi trên các ông và dạy: Các con hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần. Các con tha tội cho ai, thì kẻ đó được tha; các con cầm giữ ai thì kẻ ấy bị cầm giữ.” (Yn. 20: 19- 23)

Các Bí Tích Rửa Tội- Thêm Sức- Thánh Thể là ngưỡng cửa đầu tiên đưa ta bước vào đời sống trần thế, thì các Bí Tích Hoà Giải- Xức Dầu- Thánh Thể là hành trang gíúp ta mạnh bước tiến về Quê Trời.

Để được lãnh nhận Bí Tích Hoà Giải cho thành, ta phải làm 5 việc:1 là xét mình cho kỹ- 2 là lo buồn thống hối- 3 là quyết chí sửa mình- 4 là xưng hết mọi tội- 5 là làm việc đền tội.

Khi lãnh Bí Tích Hoà Giải, Chúa ban cho ta những ân sủng:Tăng sức mạnh tâm hồn- Hoà giải cùng Thiên Chúa và Giáo Hội- Được tha hết tội trọng và hình phạt đời đời- Bình an tâm hồn.

Sau khi tội nhân có lòng can đảm thống hối xưng hết các tội, lúc đó Linh Mục giơ tay ban phép lành tha tội rằng: “ Ta tha tội cho con! Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.”

5-Bí Tích Xức Dầu.

‘ Ai trong anh em đau yếu phải lo mời Linh Mục đến, để các Ngài nhân danh Chúa Kitô và cầu nguyện cho bệnh nhân. Kinh nguyện Đức Tin sẽ cứu người ấy, Chúa sẽ nâng đỡ và tha thứ tội họ đã phạm. (Giacôbê 5: 13- 15)

Mọi người khi già yếu bệnh hoạn hay bị tai nạn nguy đến tính mạng đều có thể lãnh nhận Bí Tích Xức Dầu và có thể chịu phép này nhiều lần trong những trường hợp nguy hiểm khác nhau.

Chỉ các Giám Mục và Linh Mục được ban Phép Xức Dầu. Người chịu Xức Dầu phải sạch tội trọng, nếu không thể xưng tội được ( như á khẩu, hôn mê bất tỉnh) phải có lòng ăn năn thống hối.

Người lãnh Phép Xức Dầu nhận được nhiều ân sủng: Được tha hết mọi tội- Cùng thông hiệp với khổ nạn Chúa để sinh ích cho mình và Giáo hội- Được an ủi bình an trong tâm hồn- Tăng sức mạnh can đảm chịu đau khổ, chống lại ma qủi cám dỗ, bền vững cùng Chúa trong những giờ phút cuối đời.

Trong nghi thức Xức Dầu, Linh Mục dâng lời chúc tụng Thiên Chúa Ba Ngôi:

- Lạy Chúa Cha Toàn Năng! Chúc tụng Chúa là Đấng đã sai Con Chúa xuống trần gian vì chúng con và phần rỗi chúng con.

- Lạy Chúa Con là Con Một Thiên Chúa! Chúc tụng Chúa là Đấng đã muốn chữa lành mọi tật nguyền của chúng con, khi Chúa xuống trần với bản tính loài người chúng con.

- Lạy Chúa Thánh Thần là Đấng an ủi! Chúc tụng Chúa là Đấng luôn dùng thần lực của Chúa mà làm cho những yếu đuối chúng con nên vững mạnh.

6-Bí Tích Hôn Phối.

“ Vì thế người ta sẽ từ bỏ cha mẹ mình mà gắn bó với vợ mình và cả 2 sẽ thành 1 xương 1 thịt. Như vậy họ sẽ không còn là 2, nhưng chỉ là 1 xương 1 thịt. Vậy sự gì Thiên Chúa đã phối hợp loài người không đựợc phân ly” (Mt. 19: 5- 6)

Từ vườn Địa Đàng, Chúa đã ban Phép Hôn Phối đầu tiên cho Adam và Eva. Đây cũng là hình ảnh phối hợp đầy ân sủng giữa Chúa Kitô và Giáo Hội.

Muốn lãnh Bí Tích Hôn Phối cả 2 nam nữ phải: Đã chịu Phép Rửa Tội- Sạch tội trọng- Cùng Công Giáo (1 trong 2 người theo đạo khác cần trở lại Công Giáo).

Sau khi lãnh nhận Bí Tích Hôn Phối, Chúa ban cho đội tân hôn những ơn: Yêu thương nhau như Chúa yêu thương Giáo Hội- Nên thánh theo đấng bậc mình- Bất khả phân ly ( trung thành 1 vợ 1 chồng).

Nhưng kèm theo những bổn phận buộc tuân giữ: Yêu thương ( nhường nhịn, tha thứ, nâng đỡ nhau)- Sinh sản ( Con cái là hoa trái Tình yêu Chúa ban)- Giáo dục ( Dạy dỗ con cái nên người hữu dụng đẹp lòng Chúa)

Trong nghi Lễ Hôn Phối, khi đôi tân hôn trao nhau Chiếc Nhẫn Tình Yêu, đã long trọng tuyên xưng chúc tụng Ba Ngôi Thiên Chúa:

- Teresa…..Xin em nhận chiếc nhẫn này để làm chứng tình yêu và lòng trung thành của anh. Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.

- Gioan…..Xin anh nhận chiếc nhẫn này để làm chứng tình yêu và lòng trung thành của em.

Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.

7-Bí Tích Truyền Chức Thánh.

“ Lúa chin đầy đồng mà thợ gặt thì ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt, sai thợ ra gặt lúa về”

(Mt.9: 36- 37)

“ Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta” (Lc. 22: 19)

Chúa Giêsu là Linh Mục Thượng Tế, Chúa kêu gọi một số người đặc biệt, hiến thân cho Chúa để phụng sự Chúa và tha nhân. Ngay khi Chúa lập Bí Tích Thánh Thể cũng chính là lúc Chúa Truyền Chức Linh Mục cho các Tông Đồ. Và sau này các Tông Đồ lại thông ban chức Linh Mục cho những người khác được tuyển chọn.

Vì thế muốn theo đuổi đời sống tu trì để trở thành Linh Mục phải có ý tưởng ngay lành ( không phải bi quan chán đời hay tìm danh vọng cho cá nhân và gia đình )- Có đầy đủ sức khoẻ, có lòng đạo hạnh và trình độ học vấn cần thiết.

Sau một thời gian tu luyện thử thách, sẽ được tuyển chọn trở thành Linh Mục nếu hội đủ những tiêu chuẩn cần thiết theo giáo luật qui định. Sự tuyển chọn rất khó khăn đúng như lời Chúa phán:

“ Kẻ được gọi thì nhiều, nhưng được chọn thì ít “

Chỉ các Giám Mục kế vị các Tông Đồ mới được Truyền Chức Linh Mục.

Khi nhận lãnh chức Linh Mục, các Tân Chức phải tuyên hứa trước Giám Mục chủ phong đại diện Chúa và Giáo Hội sẽ giữ nghiêm nhặt 3 điều: Sống Khó nghèo- Vâng lời và Khiết tịnh

Nhiệm vụ Linh Mục cao trọng, nên Chúa ban cho các ơn cần thiết để chu toàn sứ mệnh: Dâng Thánh Lễ- Rao giảng Lời Chúa- Ban các Bí Tích cùng Chăn dắt Đoàn Chiên.

Trong nghi thức Truyền Chức Linh Mục, sau cùng Giám Mục chủ phong đặt tay lần cuối trên đầu các Tân Linh Mục mà đọc:

“ Hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần! Các con tha tội cho ai thì họ được tha, cầm giữ ai thì họ bị cầm giữ. “

* Sau khi nhận thức khái niệm qua trình thuật trong 4 Phúc Âm Thánh Sử và 7 Bí Tích Thánh, ta luôn thấy Chúa Thánh Thần hiện diện nâng đỡ, an ủi, bầu chữa và thêm sức mạnh cho chúng ta và Giáo Hội để chống lại tội lỗi, ma qủi và những thế lực phản lại Hội Thánh.

Lạy Chúa Thánh Thần là Đấng Thánh hoá, Phù trợ, đem An bình, là Ánh sáng Công chính, là Ngọn lửa Tình yêu của tâm hồn con.

Lạy Chúa Thánh Thần là Thần khí sức mạnh, là Ngọn lửa tình thương, là Chim Bồ Câu thanh khiết, là Đấng Phù Trợ toàn năng, xin giữ gìn Hội Thánh trường tồn vững mạnh. Xin phù trợ cho Đức Thánh Cha Phanxicô luôn khôn ngoan và can đảm hướng dẫn Giáo Hội và chăn dắt đoàn chiên Chúa trao phó.

Lạy Chúa Thánh Thần! Xin thương ban sức mạnh cho Giáo Hội toàn cầu và Đoàn chiên Chúa vượt thắng làn sóng Vô thần đang tàn phá Giáo Hội..

Lạy Chúa Thánh Thần! Xin ban lòng can đảm cho các Vị Mục Tử để không khiếp nhược và chấp nhận hy sinh bảo vệ Giáo Hội và Đoàn Chiên.

Lạy Chúa Thánh Thần ! Xin ban Đức Tin- Cậy- Mến cho nhân loại để biết tin tưởng vào quyền năng vô biên Thiên Chúa, sẽ dẹp tan loài quỉ đỏ đang gieo rắc tang thương khắp nơi.

Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi !

Xưa Chúa đã mặc khải qua các Ngôn Sứ để loài ngườI biết đón nhận ơn Chúa Thánh Thần.

Chúa đã ban Thần Khí Thánh Thần để tăng sức mạnh cho các Môn Đệ hăng say nhiết thành trên đường rao giảng Tin Mừng cho muôn dân.

*Giờ đây xin Chúa ban Thánh Thần đến thánh hoá đời sống chúng con nên trọn hảo xứng dáng trở nên Đền thờ Chúa Ba Ngôi ngự đến.

Con khiêm cung, cúi mình dâng lên Chúa Thánh Thần lời nguyện cầu tha thiết:

“ Chúng con lạy ơn Đức Chúa Thánh Thần thiêng liêng sáng láng vô cùng. Chúng con xin Đức Chúa Thánh Thần xuống đầy lòng chúng con là kẻ tin cậy Đức Chúa Trời và đốt lửa kính mến Đức Chúa Trời trong lòng chúng con, chúng con xin Đức Chúa Trời cho Đức Chúa Thánh Thần xuống.

- Sửa lại mọi sự trong ngoài chúng con.

Chúng con cầu cùng Đức Chúa Trời, xưa đã cho Đức Chúa Thánh Thần xuống soi lòng dạy dỗ các Thánh Tông Đồ, thì rày chúng con cũng xin Đức Chúa Trời cho Đức Chúa Thánh Thần lại xuống an ủi dạy dỗ chúng con làm những việc lành.Vì công nghiệp vô cùng Đức Chúa Giêsu Kitô là Chúa chúng con- Amen. “

ĐINH VĂN TIẾN HÙNG
 
Vietcatholic News

14 Ủy Ban Thần Học Quốc Tế: Tính hỗ tương giữa Đức Tin Và Các Bí Tích, 14

Ủy Ban Thần Học Quốc Tế: Tính hỗ tương giữa Đức Tin Và Các Bí Tích, 14
Vũ Văn An
 
4. TÍNH HỖ TƯƠNG GIỮA ĐỨC TIN VÀ BÍ TÍCH HÔN NHÂN

132. [Vấn đề]. Nếu có một bí tích trong đó tính hỗ tương thiết yếu giữa đức tin và bí tích được đưa vào thử nghiệm, thì đó là bí tích hôn nhân, vì nhiều lý do. Theo Giáo hội Latinh, trong chính định nghĩa của bí tích hôn nhân, đức tin không có vẻ gì là minh nhiên cả (xem § 143). Có thể nói, nó được giả định, qua hành động rửa tội trước đó, vốn là bí tích tuyệt vời nhất của đức tin. Hơn nữa, để hôn nhân giữa những người đã chịu phép rửa trong Giáo hội Latinh được thành hiệu (valid), không đòi phải ý định cử hành một bí tích [151]; không đòi phải có lòng mong muốn hoặc ý thức được tính bí tích của việc kết hợp hôn nhân, nhưng chỉ cần có ý định ký kết một cuộc hôn nhân tự nhiên, điều này có nghĩa là theo trật tự tạo dựng, với các đặc tính mà Giáo hội vốn coi là cố hữu trong hôn nhân tự nhiên. Trong lối hiểu hôn nhân này, nhiệm vụ của thần học là làm sáng tỏ trường hợp hôn nhân phức tạp giữa những người “đã chịu phép rửa nhưng không tin”. Một sự bảo vệ triệt để tính bí tích của các cuộc kết hợp như vậy sẽ làm suy yếu tính hỗ tương thiết yếu giữa đức tin và các bí tích, vốn là đặc điểm của nhiệm cục bí tích; sẽ hỗ trợ, vì đã ủng hộ, ít nhất trong trường hợp hôn nhân, một chủ nghĩa tự động bí tích (sacramental automatism) mà chúng ta đã bác bỏ vì không xứng với đức tin Kitô giáo (xem chương 2 trên đây).

133. [Phương thức]. Với việc biết được sự khó khăn của các vấn nạn nêu lên dưới tiêu đề “tính hỗ tương giữa đức tin và hôn nhân”, chúng ta sẽ tiến hành như sau. Trước nhất, vì, dù chúng ta có chung một gốc, nhưng vẫn có những khác biệt đáng chú ý trong thần học về hôn nhân giữa truyền thống Latinh và truyền thống Đông phương, chúng ta sẽ chỉ tập chú vào lối hiểu của truyền thống Latinh. Truyền thống phong phú Đông phương có diện mạo riêng của họ. Chúng ta làm rõ một số khía cạnh khác biệt giữa hai truyền thống. Trong khi, trong thần học Latinh, người ta chủ yếu hiểu rằng vợ chồng là các thừa tác viên của bí tích và bí tích diễn ra qua sự thuận tình tự do và hỗ tương của vợ chồng, thì đối với truyền thống Đông phương, việc ban phước lành của giám mục hoặc linh mục, tự nó, thuộc về chính yếu tính của bí tích [152]. Chỉ có thừa tác viên thánh mới được ban phép khẩn cầu Chúa Thánh Thần (epiclesis) để hoàn tất việc thánh hóa vốn cố hữu trong bí tích. Nó có quy định giáo luật hoàn chỉnh của riêng nó [153]. Điều này là do quan niệm về bí tích hôn nhân bắt nguồn từ một nền thần học có nhân cách và khuôn mạo riêng của nó, trong đó các hiệu quả thánh hóa của bí tích được đặt lên hàng đầu [154].

134. Thứ hai, theo phương pháp luận thông thường (xem § 80), với ít nhiều thích nghi, chúng ta sẽ bàn đến trường hợp thông thường của bí tích hôn nhân. Tiếp theo, chúng ta sẽ tìm hiểu vấn đề nghi ngờ tính chất bí tích của các cuộc hôn nhân giữa những người “ đã chịu phép rửa nhưng không tin”, theo cách tiếp cận hai mặt. Trước nhất, chúng ta xem xét tình trạng của vấn đề và sau đó, chúng ta đưa ra một đề nghị thần học để giải quyết, phù hợp với tính hỗ tương giữa đức tin và các bí tích, không bác bỏ nền thần học hiện nay về hôn nhân.

4.1. Bí tích hôn nhân

a) Nền tảng Kinh Thánh

135. [Hôn nhân trong kế hoạch Thiên Chúa]. Mặc dù mỗi bí tích có đặc điểm riêng của nó, nhưng trường hợp hôn nhân nổi bật vì tính đặc thù của nó. Hôn nhân đúng nghĩa thuộc về trật tự tạo dựng, trong kế hoạch Thiên Chúa (x. GS 48). Thực tại tạo dựng của hôn nhân hệ ở khả năng tương quan giữa những con người thuộc giới tính khác nhau, nam và nữ (St 1:27), được liên kết chặt chẽ với khả năng sinh sản (St 1:28), mà đỉnh cao là một hình thức kết hợp đặc biệt đến nỗi họ tạo thành “một thân xác” (xem St 2: 23-24). Cuộc đàm thoại bí tích của Thiên Chúa suốt trong nhiệm cục cứu độ của Người tìm thấy ở đây một thực tại, được Thiên Chúa tạo dựng giống hình ảnh Người, giống hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi [155], rất có khả năng tự phát biểu mối tương quan yêu thương, giao ước giữa Thiên Chúa và dân Người, người phối ngẫu của Người, luôn được diễn tả một cách tượng trưng bởi một người đàn bà. Theo quan điểm Kitô giáo, thực tại tạo vật này trở thành một bí tích, nghĩa là một dấu hiệu hữu hình của tình yêu Chúa Kitô dành cho Giáo hội (Eph 5:25, 31-32).

136. [Hôn nhân trong giáo huấn của Chúa Giêsu]. Trước việc thực hành rẫy vợ (Đnl 22:19, 29; 24: 1-4), Chúa Giêsu nhắc lại kế hoạch ban đầu của Thiên Chúa: “Điều gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân rẽ” (Mc 10: 9 và Mt 19: 6; xem St 2:24; 1 Cr 6:16); Người minh xác rằng ly dị là một sự nhượng bộ do sự cứng lòng (Mc 10: 5 và Mt 19: 8). Trong suốt lịch sử, việc giải thích mệnh đề Mátthêu đã gây tranh cãi rất nhiều: “Người nào rẫy bỏ vợ mình, không phải vì kết hợp bất hợp pháp (πορνεία, porneia), và kết hôn với người khác, là phạm tội ngoại tình” (Mt 19: 9; xem 5:32). Sau vô số cuộc thảo luận, không có sự đồng thuận nào đạt được cả về vấn đề porneia lẫn về hậu quả chính xác mà nó có thể gây ra. Truyền thống Latinh luôn loại trừ khả thể cuộc kết hợp thứ hai vì lý do này [156], sau cuộc kết hợp thành hiệu thứ nhất (x. Mc 10: 10-11), nhất quán với sự bối rối của các môn đệ theo bản văn trong Tin Mừng Mátthêu (Mt 19:10).

137. [Hôn nhân và “Mysterion” (mầu nhiệm)]. Chính sự hiện diện của Chúa Giêsu tại tiệc cưới Cana (Ga 2: 1-12), với tất cả ý nghĩa tiệc cưới thiên sai của nó, cùng với những ám chỉ khác của bản chất hôn nhân (Mt 9:15 và tương tự; Mt 25: 5-6), nêu bật khả năng mối quan hệ vợ chồng có thể phát biểu các khía cạnh sâu sắc của mầu nhiệm Thiên Chúa, chẳng hạn như, lòng trung thành của Người đối với sự bất trung của chúng ta với giao ước của Người (x. Edk 16 và 23; Hs 2; Grm 3: 1-10; Is 54). Thư gửi tín hữu Êphêsô (5: 31-32) liên kết giao ước hôn nhân một cách minh nhiên với tính “mysterion” (sacramentum) của giao ước bất khả thu hồi giữa Chúa Kitô và Giáo hội. Căn cứ vào toàn bộ chứng tá Kinh Thánh, Giáo hội luôn coi tính bất khả hủy tiêu như yếu tố nền tảng của cả hôn nhân tự nhiên lẫn hôn nhân Kitô giáo. Sự kết hợp giữa đàn ông và đàn bà, từ bản chất vốn không thể hủy tiêu, thể hiện sự thật của nó trong lòng chung thủy và thiện ích con cái. Sau việc lãnh nhận bí tích rửa tội (việc đồng hình đồng dạng của các người phối ngẫu với Chúa Kitô và việc nên thánh của họ nhờ sự cư ngụ của Chúa Thánh Thần), một cách nào đó, tự nó trở thành một đại biểu bí tích cho lòng trung thành của Chúa Kitô [157]. Tình yêu giữa vợ chồng không xa lạ gì với nguồn sống mới và đức tin Kitô giáo của họ. Trong đời sống Kitô hữu, đức tin và tình yêu không thể tách rời nhau một cách tuyệt đối.

138. [Hôn nhân: được Đức tin lên đặc điểm]. Theo Thánh Phaolô, Giáo hội cũng hiểu tương quan vợ chồng như một điều có đặc điểm cao nhờ sự hiện diện của đức tin (x. 1Cr 7: 12-16). Trong hôn nhân của một Kitô hữu với một người ngoài Kitô giáo, Thánh Phaolô nói như sau: “Người chồng không có đức tin được thánh hóa nhờ vợ, và người vợ không có đức tin được thánh hóa nhờ người chồng có đức tin” (1 Cr 7:14). Điều gọi là đặc ân Thánh Phaolô được đặt căn bản trên đoạn văn này (nhất là 1 Cr 7:15), trong đó ta phân định được một phẩm chất cao hơn của hôn nhân bí tích so với hôn nhân tự nhiên, trong trật tự ơn thánh.

b) Ánh sáng từ Thánh truyền

139. Việc “kết hôn trong Chúa”, một đặc điểm của các Kitô hữu, đã được phát biểu nhiều cách khác nhau trong suốt lịch sử. Theo Thư gửi Diognetus, lúc ban đầu, các Kitô hữu không phân biệt: “Họ kết hôn như mọi người khác” [158]. Tuy nhiên, việc này chẳng bao lâu sau đã có sự biến chuyển. Thánh Inhaxiô Thành Antiôkia chủ trương nên có cơ hội liên hệ việc này với giám mục [159]. Về phần ông, Tertullianô ca ngợi các cuộc kết hợp được Giáo hội chúc phúc [160]. Vượt ra ngoài cách giải thích chính xác đối với phạm vi phát biểu của các nhà thần học tiên khởi này, người ta nhấn mạnh rằng biến cố kết hôn không xa lạ đối với cả đức tin của cô dâu và chú rể lẫn cộng đồng giáo hội. Từ thế kỷ thứ tư và thứ năm trở đi, việc chúc phúc của giáo hội, qua một thừa tác viên, trở thành một phong tục hẳn hoi [161]. Từ thời kỳ này trở đi, một nền phụng vụ Kitô giáo đã tự hình thành [162], tích hợp các phong tục đặc trưng ngoại giáo và biến đổi chúng, như trong việc “trùm khăn” [velatio], [163] đội triều thiên (coronatio) [164], việc bàn giao cô dâu, việc cột các bàn tay [165], việc làm phép các chiếc nhẫn, của hồi môn (arras) hay hôn người đã hứa hôn; đồng thời, nó thêm vào nhiều điều khác, như cho vợ chồng “uống chén chung” vốn đặc trưng đối với phụng vụ Byzantine [166]. Phụng vụ hôn nhân, trong các lời cầu nguyện và giải thích các cử chỉ, nói lên vị trí độc đáo của hôn nhân trong nhiệm cục thần linh, với nhiều ám chỉ đến các bản văn Kinh thánh về hôn nhân. Cả Peter Lombard lẫn Công đồng Lateranô thứ hai đều coi hôn nhân như một bí tích; một điều được cả Công đồng Florence và Công đồng Trent tán thành một cách đầy xác tín [167]. Trong Công đồng cuối cùng vừa kể này, sự cần thiết của hình thức giáo luật để bí tích được thành hiệu đã được ấn định, mà không sửa đổi cách hiểu tín lý về bí tích, do đó cho thấy đây là một thực tại giáo hội, thuộc trật tự đức tin diễn ra “in facie Ecclesiae” (trước mặt Giáo Hội) [168] trái với học thuyết của các nhà cải cách coi hôn nhân chỉ là vấn đề dân sự đơn thuần [169]. Theo cách này, đặc tính giáo hội của hôn nhân được công nhận, khác xa với việc hiểu nó như một vấn đề riêng tư giữa hai vợ chồng.

c) Hôn nhân như một bí tích

140. Nếu các bí tích giả thiết phải có đức tin (SC 59), thì hôn nhân cũng không ngoại lệ: “Các đấng chăn chiên, được tình yêu Chúa Kitô thúc đẩy, luôn cố gắng đón nhận cô dâu chú rể và trước hết nuôi dưỡng và củng cố đức tin của họ: vì bí tích Hôn nhân giả thiết phải có nó và đòi hỏi nó" [170]. Một cuộc kết hợp hôn nhân giữa một người đàn ông và một người đàn bà, cả hai đều không được rửa tội, theo quan điểm của đức tin Kitô giáo, là một thực tại tạo vật rất có giá trị, có khả năng được nâng lên trật tự siêu nhiên, như, trong trường hợp trở lại sau này của vợ chồng. Nói cách khác, trong cuộc hôn nhân “tự nhiên”, có một thực tại có ý nghĩa, sẵn sàng được hiện thực hóa và hoàn thành trọn vẹn trong Chúa Kitô. Trong các cộng đồng tiên khởi, thực tại hôn nhân vốn không bị sống ở bên lề đức tin. Kitô hữu vốn sống giao ước vợ chồng của họ “trong Chúa” (1 Cr 7:39). Một số tác phong công khai trái với đức tin trong bối cảnh mối tương quan vợ chồng có thể dẫn đến việc bị tuyệt thông (1 Cr 5). Vì tình yêu phu phụ giữa vợ chồng Kitô hữu đã trở thành một dấu chỉ, một bí tích, nói lên tình yêu của Chúa Kitô đối với Giáo hội của Người. Dấu hiệu của mối tình yêu bất khả thu hồi này chỉ có thể nói lên điều nó biểu thị nếu chính mối dây này không thể hủy tiêu. Tính bất khả hủy tiêu là một khía cạnh đã hiện diện từ “ngay ban đầu” trong kế hoạch thần linh và do đó, trong yếu tính, vốn cấu hình cho thực tại của mọi cuộc hôn nhân đích thực trong cốt lõi thần học của nó. Nhờ cách này, thực tại nhân bản sâu sắc như tình yêu của cặp vợ chồng, rất đặc trưng của hữu thể tương quan của chúng ta, khả năng tự hiến cho nhau giữa vợ chồng và con cái, nói lên phần sâu sắc nhất của mầu nhiệm thần linh: tình yêu.

141. Hai người Công Giáo đã được rửa tội, thêm sức và có thói quen lãnh nhận Thánh Thể, tiến một bước đẹp đẽ và có ý nghĩa trong cuộc sống đức tin của họ khi họ cử hành bí tích hôn nhân. Họ lãnh nhận được ơn thánh của bí tích hôn nhân, một ơn, về căn bản, hệ ở việc nay họ “biểu lộ và tham dự vào mầu nhiệm hiệp nhất của tình yêu sinh hoa trái giữa Chúa Kitô và Giáo hội (Eph 5:32), họ giúp nhau tự thánh hóa trong đời sống vợ chồng và trong việc sinh con cái” [171]. Các nẻo đường đức tin của họ đã gặp nhau để làm chứng cho sức mạnh của tình yêu Chúa Kitô dành cho Giáo hội, để làm phong phú cho nhau, để giáo dục Kitô giáo cho con cái và để thánh hóa lẫn nhau [172]. Họ tạo nên “một Giáo hội tại gia” [173]. “Họ được củng cố và thánh hiến bởi một bí tích đặc biệt” (GS 48). Nhờ cách này, họ nói lên một cách cụ thể tính trưởng thành của đức tin đã lãnh nhận lúc chịu Phép Thêm Sức, bằng cách đảm nhiệm một bậc sống Kitô hữu (x. LG 11) và một số trách nhiệm trong cộng đồng Kitô hữu. Trong lúc cử hành cuộc hôn nhân của họ, đức tin của họ được giả thiết, phát biểu, nuôi dưỡng và củng cố bởi hành động của Chúa Kitô trong bí tích, Đấng “cư ngụ với họ” (GS 48), với giao ước hôn nhân và với cuộc sống gia đình mà giờ đây họ đảm nhiệm dưới sự chúc phúc của Thiên Chúa và Giáo hội. Hôn nhân Công Giáo phát biểu một cách thâm hậu rằng nó là một dự án sống được đức tin thai nghén và khuyến khích [174] như một cách thánh hóa lẫn nhau, trong đó vợ chồng thực hiện chức tư tế chung bằng cách trao cho nhau bí tích [175] (x. LG 10). Ý thức và mục đích trở thành bí tích của Tình yêu Thiên Chúa giả thiết và phát biểu đức tin bản thân của mỗi người phối ngẫu. Do đó, nó thực sự xuất hiện như một bí tích đức tin, trong đó Chúa Giêsu Kitô và Chúa Thánh Thần, Thánh Thần tình yêu (x. Rm 5: 5), hành động một cách hữu hiệu. Tình yêu mà vợ chồng tuyên bố cho nhau đã được xác định bởi thực tại của họ như những người đã chịu phép rửa. Sự thánh hóa do bí tích mang lại sẽ thúc đẩy tình yêu siêu nhiên này trong việc hiện thực hóa cộng đồng phu thê và gia đình.

d) Đức tin và các thiện ích của hôn nhân

142. Sự hiện diện của đức tin và hành động hữu hiệu của ơn thánh bí tích thúc đẩy vợ chồng thể hiện các thiện ích riêng của hôn nhân: “Như một hiến thân cho nhau của hai người, sự kết hợp thân mật này và thiện ích con cái buộc vợ chồng phải có lòng chung thủy hoàn toàn và đòi phải có sự hợp nhất bền vững giữa họ với nhau” (GS 48). Theo quan điểm đức tin, tính bất khả tiêu (xem GS 49) được hiểu như đặc điểm yếu tính của tương quan vợ chồng, bởi nếu không nó sẽ đi chệch khỏi kế hoạch nguyên thủy của Thiên Chúa (St 2: 23-24) và sẽ không còn là dấu hiệu hữu hình của Tình yêu bất khả thu hồi của Chúa Kitô dành cho Giáo hội của Người. Lòng chung thủy giữa các người phối ngẫu và việc quảng đại tìm kiếm thiện ích của người phối ngẫu kia (x. GS 49) được sống như một điều phát xuất một cách nhẹ nhàng và đồng dạng từ đức tin và mối tương quan bản thân với Chúa Giêsu. Vì đức tin đặt chúng ta vào mối tương quan bản thân với Chúa Giêsu Kitô, đồng thời tự trình bày như một kiểu mẫu theo chân Đấng đã hiến mạng sống mình cho tội nhân (thí dụ, Mc 10:45; Rm 5: 6-8; 14:15; Eph 5: 2; 1 Ga 4: 9-10). Nhờ đức tin, những người chồng và những người vợ Kitô hữu cố gắng diễn dịch vào cuộc sống hôn nhân và gia đình của họ câu châm ngôn theo đó, “có nhiều niềm vui trong việc cho đi hơn là nhận lãnh” (Cv 20:35). Nhờ đức tin, chúng ta biết khả năng sinh sản được khắc ghi trong chính kế hoạch của Thiên Chúa (St 1:28), một trong những dấu hiệu của phúc lành là con cái. Qua đức tin, tình yêu Thiên Chúa Ba Ngôi dạy chúng ta rằng tình yêu đích thực luôn bao gồm tính hỗ tương yêu thương tối đa và sự cởi mở tối đa đối với người khác. Vì lý do này, đức tin ngăn cản chúng ta hiểu hôn nhân như một kiểu ích kỷ tính toán của vợ chồng. Một đức tin tích cực của cả hai vợ chồng dẫn họ đến việc hiểu rõ rằng Thiên Chúa, trong tư cách tác giả của hôn nhân, “đã ban cho nó những thiện ích và mục đích khác nhau (GS 48), những điều mà vợ chồng Kitô giáo luôn cố gắng sống và khai mở. Do đó, một đức tin sống động và chia sẻ trong lãnh vực kết hợp hôn nhân sẽ giảm thiểu khả thể này là các xu hướng qui ngã (egocentric) hoặc duy cá nhân có cơ hội bén rễ nơi mỗi người phối ngẫu cũng như nơi vợ chồng, thậm chí bất chấp áp lực môi trường của nền văn hóa xung quanh.

Kỳ sau: 4.2. Một vấn đề gây hoài nghi: Phẩm chất bí tích của cuộc hôn nhân của “những người đã chịu phép rửa nhưng không tin”

Vietcatholic News

Một phụ nữ có thể trở thành giám mục không?


 
 
lepelerin.com, Agnès Chareton và Christophe Chaland, 2020-05-30

Năm 2015, bà Rachel Treweek (bên mặt) và bà Canon Dame Sarah Mullally (bên trái) được Tổng Giám mục giáo phận Canterbury phong giám mục. Từ năm 1989, Giáo hội Anh giáo đã  phong phụ nữ làm giám mục. © Peter Macdiarmid/Getty Images/AFP.
Ngày thứ hai 24 tháng 5 – 2020, bà Anne Soupa, nhà văn, thần học gia ứng cử vào chức vụ Tổng Giám mục giáo phận Lyon. Một khiêu khích mà mục đích là làm cho mọi người suy nghĩ, bà trách nhiệm việc mình làm. Sơ Dominique Waymel, thần học gia Dòng Tông đồ Thánh Gioan cho rằng sáng kiến này chưa đúng lúc.
“Tôi muốn chất vấn về vấn đề phụ nữ”

“Sau bức thư xin ứng cử của tôi, tôi nhận được một số lượng phản ứng đáng kinh ngạc. Điều này chứng tỏ vấn đề đã thật sự được đặt ra. Một tổng giám mục phụ nữ, tại sao lại không? Tôi muốn chất vấn về vấn đề phụ nữ và quản trị trong Giáo hội. Tôi cảm thấy bị đụng chạm vì sự vô hình của phụ nữ trong lĩnh vực công cộng của giáo hội công giáo. Đôi khi họ có các trách nhiệm quan trọng, về thứ trật kỹ thuật, ngân quỹ chẳng hạn, nhưng đó có thật sự là các bộ, các chức vụ có trách nhiệm mục vụ không? Nhất là không có phụ nữ linh mục, phụ nữ giám mục, phụ nữ phó tế. Họ không có quyền bỏ phiếu trong các thượng hội đồng giám mục, dù đó là các nữ tu, điều này luôn gây sốc và làm cho Giáo hội nghèo đi rất nhiều. Phụ nữ đã phải ngậm trong lòng lệnh phục tùng. Họ nghĩ mình không có khả năng, mình bất tài. Chính tôi, khi một trong các người thân nói với tôi: “Chị ứng cử vào chức tổng giám mục giáo phận Lyon đi”, tôi trả lời: “Không, không thể được.” Tôi sợ. Rồi tôi nghĩ, đây là lý do chính đáng, phải tiến tới để các phụ nữ khác có thể nói: tôi dám ứng cử, tôi có khả năng. Bây giờ rất nhiều phụ nữ khen tôi! Tôi cũng đặt vấn đề về việc quản trị. Năm 2013 khi Đức Phanxicô được bầu chọn, ngài khẳng định trong Tông huấn Niềm vui Tin Mừng (Evangelii Gaudium) là cần phải làm việc nhiều để phân biệt rõ đâu là chính quyền và đâu là sứ vụ chức thánh. Không có gì thay đổi. Lời kêu gọi của Đức Giáo hoàng đã không được nghe.
Trách nhiệm của phụ nữ là ở một bên: họ không đụng vào ba chức vụ chủ yếu trong Giáo hội, giảng dạy, phong thánh và chính quyền. Tôi nghĩ một giáo dân có thể đảm nhận trách nhiệm của một giám sự, có nghĩa là người canh gác theo nghĩa cổ của từ này. Họ theo dõi sự tôn trọng giáo điều, trung thành với đức tin, bảo vệ những người nhỏ bé, quản lý tốt các cộng đồng …  Và bên cạnh họ, trách nhiệm về bí tích vẫn được giao cho các ông. Nếu Giáo hội hoàn vũ không muốn nữ giới được phong chức, thì Giáo hội tách chức thánh ra khỏi chính quyền! Trong bối cảnh tinh thần, suy nghĩ rằng giám mục không mang một hình ảnh duy nhất, đã là một làn không khí tươi mát. Tôi nghĩ tiến trình này có thể khuấy động lương tâm tận sâu và hòa giải mọi người với Giáo hội.”
“Thật không công bằng khi nói phụ nữ không có tiếng nói”

“Ứng cử vào chức vụ tổng giám mục giáo phận Lyon như bà Anne Soupa làm không phải là phục vụ phụ nữ. Tôi đã nghe các phụ nữ cho biết, họ bị tổn thương vì cách làm này. Vấn đề chỗ đứng của phụ nữ trong Giáo hội quá nghiêm túc để bị đối xử một cách châm biếm như vậy. Tình trạng đã thay đổi nhiều kể từ công đồng. Các nữ giáo dân  – dù đa số vẫn là các nam giáo dân – đã giảng dạy trong các học viện và tham dự vào việc đào tạo các giáo sĩ. Họ có tước vị đại học và có tiếng nói. Mặt khác họ đóng góp rất nhiều vào việc thánh hóa dân Chúa, họ tham dự nhiều vào đời sống phụng vụ. Họ dạy giáo lý; họ phụ trách các lớp chuẩn bị hôn nhân, chuẩn bị cho trẻ em, người lớn được rửa tội, rước lễ lần đầu, thêm sức. Đời sống gia đình cũng là nơi thánh hóa sứ vụ của họ.
Còn về việc quản trị trong Giáo hội, công việc này thường do nam nữ giáo dân làm trong các phong trào Công giáo tiến hành, nhiều phong trào hậu công đồng có tầm quan trọng chính của sứ vụ Giáo hội. Công đồng đã đặc biệt nhấn mạnh đến giá trị của phép rửa tội, chúng ta được kết hợp vào Chúa Kitô ‘linh mục, ngôn sứ, vương giả’. Nghĩ rằng một người nên trở thành giám mục để thực thi tất cả tiềm năng phép rửa là quan điểm giáo sĩ. Trọng tâm nhiệm vụ của Giáo hội là giải hòa với Chúa và với sự hiệp nhất nhân loại đã bị chia xé. Đó là nhiệm vụ của tất cả những người được rửa tội, khởi đi từ chứng từ đời sống của họ. Giáo hội là tập hợp của những người được rửa tội này, họ loan báo, làm chứng, hành động và phục vụ.
Điều đó nói lên phụ nữ phải có nhiều chỗ hơn trong các tiến trình đưa ra quyết định. Hội đồng giám mục nên có nhiều phụ nữ hơn. Cuộc khủng hoảng lạm dụng tình dục sẽ không xảy ra như nó đã xảy ra nếu phụ nữ có tiếng nói. Tôi cũng không hiểu vì sao phụ nữ được mời đến thượng hội đồng giám mục (một hội đồng tư vấn) lại không có quyền bỏ phiếu, ngược với các vị khách nam không phải là giám mục khác. Các bề trên của các Dòng nữ có kinh nghiệm rất nhiều về lãnh vực này và các thách thức mà Giáo hội phải đưa ra. Cuối cùng, chúng ta có thể tự hỏi về vấn đề rao giảng trong phụng vụ cho các giáo dân đã được đào tạo”.
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Bảy phẩm chất cần thiết của một nhà truyền giáo

fr.aleteia.or, Claire Guigou, OPM, 

Bạn muốn Chúa Kitô đến với thế giới, nhưng bạn không biết bạn có đang đi đúng đường không? Theo Đức Phanxicô, các người đi truyền giáo có những đặc tính riêng của mình.
Trong bài diễn văn cảm động nhân ngày Các Hội Giáo hoàng Truyền Giáo ngày 21 tháng 5-2020, Đức Phanxicô đã nhắc lại một vài điểm chính trong Tông huấn Niềm vui Tin Mừng Evangelii gaudium để chúng ta có thể phân biệt được cỏ tốt cỏ xấu.
Theo ngài, người đi truyền giáo có thể được nhận ra qua các đức tính tốt…
Họ vui vẻ

Đức Phanxicô giải thích: “Nếu chúng ta theo Chúa Giêsu, chúng ta hạnh phúc được Ngài thu hút thì người khác sẽ nhận thấy và họ không thể nào không ngạc nhiên.” Biết bao nhiêu lần, chúng ta có kinh nghiệm này: một khuôn mặt tươi cười thì thuyết phục hơn là một bài diễn văn dài! “Niềm vui thể hiện nơi những người được Chúa Kitô và Thần Khí thu hút làm cho mọi sáng kiến truyền giáo được phong phú và sinh hoa kết trái.” Đức Phanxicô đưa ra ở đây một nguyên tắc đơn giản, dường như đây là một trong các điểm chính triều giáo hoàng của ngài: chính nhờ sức thu hút mà một tâm hồn mới trở lại. Mầu nhiệm Cứu chuộc có thể thu hút người khác vì “Chúa Kitô mạc khải cho chúng ta bằng cách thu hút chúng ta,” ngài trích câu nói của Thánh Âugutinô để dẫn chứng. Thật đẹp khi thấy Chúa Giêsu không chỉ thuyết phục ý chí chúng ta mà còn thu hút niềm thích thú của chúng ta!
Nuôi dưỡng lòng biết ơn và tinh thần nhưng không

Đức Phanxicô nói tiếp: “Niềm vui loan báo Tin Mừng luôn tỏa sáng trên nền tảng của lòng biết ơn.” Các môn đệ không bao giờ quên giây phút Chúa Kitô chạm đến tâm hồn họ  mỗi người chúng ta đều nhớ đến giây phút gặp gỡ Ngài và tạ ơn về ơn này. Và thật vậy, lựa chọn đi theo con đường truyền giáo là “phản ánh lòng biết ơn” mình đã biết Chúa Kitô, đó là hệ quả. Đức Phanxicô giải thích: “Đó là đáp trả của một người qua lòng biết ơn, đã tỏ ra dễ bảo với Chúa Thánh Thần, và vì thế họ tự do.” Từ lòng biết ơn này nảy sinh ra phép lạ của sự nhưng không, ơn hiến mình nhưng không. Tuy vậy Đức Phanxicô cảnh báo: “Ngược lại, sẽ là vô ích hoặc không thích ứng nếu giới thiệu truyền giáo và loan báo Tin Mừng như một bổn phận bắt buộc, một loại nghĩa vụ làm vì mình  đã được rửa tội”. Vì thế chúng ta phải biết cám ơn cho cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô, tinh thần truyền giáo của chúng ta sẽ được đổi mới!
Họ khiêm tốn

Đức Phanxicô cảnh báo: “Chúng ta không bao giờ phục vụ Giáo hội bằng lối kiêu ngạo, xem bí tích và lời nói của đức tin kitô giáo là chiến lợi phẩm vì xứng công.” Bởi vì sự thật, đức tin, hạnh phúc, cứu rỗi không phải là “tài sản của chúng ta”, Tin Mừng Chúa Kitô chỉ có thể được loan báo trong tinh thần khiêm tốn. Đức Phanxicô nhắn nhủ: “Đức tính này rất khó để có, chúng ta chỉ có được khi theo Chúa Kitô, nhận lời giáo huấn của Ngài với các môn đệ, ‘Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng.’ (Mt 11, 29). Khi nhìn vào Ngài, tất cả các quan niệm sai lầm của chúng ta về đức khiêm tốn sẽ bị gạt bỏ.
Họ không làm cho Tin Mừng trở nên phức tạp, nhưng làm cho thành dễ dàng

Đức Phanxicô xin chúng ta: “Đừng đặt trở ngại cho ước mong của Chúa Kitô, Đấng cầu nguyện cho chúng ta và muốn chữa lành cho thế giới.” Đây là điểm thiết yếu của Đức Phanxicô. Ngài nói: “Một trái tim truyền giáo nhận ra tình trạng thực tế của người dân, với các giới hạn, tội lỗi, yếu đuối của họ và họ yếu với người yếu.” Vì thế, theo Đức Phanxicô, đi truyền giáo đôi khi phải đi chậm để “tháp tùng những người còn ở bên lề đường.” Giáo hội không phải là “sở thuế” và bất cứ ai tham dự vào công việc của Giáo hội đều phải “không được làm thêm gánh nặng vô ích cho những người đã vất vả trong cuộc sống, không áp đặt những con đường đào tạo rắc rối nhiêu khê, cực nhọc để được hưởng những gì đã được Chúa ban cho một cách dễ dàng.”
Gần gũi với mọi người

Đức Phanxicô hài hước nói: “Chúa Giêsu không gặp các môn đệ trong một cuộc hội thảo, một buổi đào tạo hay trong ngôi đền, Ngài gặp họ bên bờ hồ Galilê khi họ đang bận làm việc. Và khi nào “việc loan báo ơn cứu rỗi Chúa Giêsu cũng là nơi người dân đang ở, trong đời sống cụ thể của họ.”
Người đi truyền giáo luôn tìm gặp người dân trong đời sống bình thường của họ, “tham dự vào các nhu cầu, các hy vọng, vào các vấn đề của họ.” Thay vì phát minh ra đủ kiểu để đào tạo, tạo ra các buổi họp dành riêng, các mô hình song song trong đó chúng ta lặp lại các khẩu hiệu của chính mình, thì người đi truyền giáo nên tìm nơi chốn và thì giờ để đi gặp người anh em. Một chiến thuật mời gọi chúng ta đi ra khỏi các vòng khép kín.
Ưu tiên cho người nghèo

Đức Phanxicô nhắc lại, tất cả những ai đi truyền giáo, nếu họ có Chúa Thánh Thần trong lòng, họ sẽ đặt ưu tiên cho người nghèo, người thấp bé, như dấu chỉ và phản ánh quan tâm của Chúa với những người này. Và ngài nói thêm: “Những người trực tiếp tham dự trong các sáng kiến và cấu trúc truyền giáo của Giáo hội không bao giờ nên biện minh cho sự vô tâm của mình, – rất phổ biến trong một số môi trường giáo sĩ – với lý do họ phải tập trung năng lực vào các công việc ưu tiên khác của truyền giáo. Không, ưu tiên cho người nghèo không phải là một lựa chọn tùy tiện của Giáo hội”. Làm thế nào để gần những người khốn cùng nhất trong thời đại dịch Covid-19 này?
Họ cùng ở với Chúa Thánh Thần

Đức Phanxicô giải thích, tất cả các đức tính trên sẽ không có ý nghĩa nếu chúng ta quên điều thiết yếu: ngoài Chúa Thánh Thần, không có gì là có thể. Mỗi môn đệ truyền giáo phải ghi nằm lòng, “chính Chúa Thánh Thần thổi lửa và giữ đức tin trong tâm hồn”.  Trong thực tế, Chúa Kitô “đã nói lời chứng của Ngài qua qua các việc Ngài đã thực hiện trong chúng ta và cùng với chúng ta.” Các người đi truyền giáo phải tin, Chúa Kitô đã có trái tim của họ trong quyền lực của Ngài.”  Nếu chúng ta chỉ tin vào việc cầu nguyện, Chúa thực sự không thể ban cho chúng ta Thánh Linh của Ngài, “những lời cầu nguyện này không xác thực mà chỉ là các công thức trống rỗng, những lối nói, những tùy nghi được được áp đặt để tuân thủ theo Giáo hội.” Chúng ta có thực sự tin Chúa Kitô có thể thay đổi trái tim của chúng ta không?
Marta An Nguyễn dịch