Trang

Thứ Sáu, 29 tháng 5, 2020

Nên thánh nhờ làm người như Giêsu

Nên thánh nhờ làm người như Giêsu


  •  
  •  
NÊN THÁNH NHỜ LÀM NGƯỜI NHƯ GIÊSU
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu SJ
ĐỨC CHÚA LÀ ĐẤNG THÁNH
Trong Kinh Thánh Cựu Ước, qôdes שֶׁדֹ֑ק hay qados שֹֽׁדָק để chỉ phẩm tính thánh thiện. Từ này bắt nguồn từ động từ qadas שַׁ֥דָק có nghĩa là tách khỏi cái phàm tục, để thuộc về cái thánh thiêng (separate, single out).[1] Khi động từ này ở dạng Piel, nó có nghĩa là thánh hóa hay thánh hiến (tư tế 1 Sm 7,1; con vật đầu lòng Đnl 15,19; con đầu lòng Xh 13,2; đền thờ Lv 21,23). Thánh hiến là hiến dâng một vật hay một người để phục vụ ĐỨC CHÚA.
Thánh thiện là tách biệt để thuộc về Chúa, điều này áp dụng cho dân Israel: “Các ngươi phải thuộc về Ta, phải thánh thiện (qơđôsim), vì Ta, ĐỨC CHÚA, Ta là Đấng Thánh (qados), và Ta đã tách biệt các ngươi ra khỏi các dân để các ngươi thuộc về Ta” (Lv 20,26).
“Thánh” là phẩm tính đi với những gì dành riêng để thuộc về Thiên Chúa. Nơi chốn: Đất thánh (Xh 3,5 qôdes), thành thánh Giêrusalem (Is 48,2 qôdes), cung thánh (Xh 26,33 qôdes), Đền thánh (Is 64,10 qados). Con người: tư tế (Lv 21,6 qôdes), nazir (Ds 6,5 qados), ngôn sứ (Kn 11,1 hagios), dân thánh (Lv 19,2 qados, qơdôsim). Đồ vật: của thánh (Xh 29,33 qôdes), các đồ trong phụng tự, phẩm phục. Thời gian: ngày Sabbat (Xh 20,11; 31,14 qôdes), Năm Thánh Toàn Xá (Lv 25,12 qôdes). Đây là những thực tại dành riêng cho Thiên Chúa, không dùng cho những mục tiêu phàm tục.
Mọi thực tại trên đây là thánh, nhưng theo những cấp độ khác nhau tùy mối dây liên kết chúng với Thiên Chúa. Dĩ nhiên sự thánh thiện của chúng không cùng bản chất với sự thánh thiện của Thiên Chúa. Không phải cứ tiếp xúc với sự thánh thiện của Thiên Chúa là tự động nên thánh đâu. Chúng là thánh bởi quyết định tự do của Thiên Chúa, theo những nghi thức do Ngài ấn định (x. Lv 16,1-16). Còn việc thánh hóa con người thì mỗi người phải tiến lên từng bước, xuyên qua bao thử thách của cuộc sống.
Mọi sự thánh thiện đều bắt nguồn từ chính Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng ba lần thánh (Is 6,3). Danh Ngài là thánh (Tv 33,21). Ngài tỏ cho ta thấy Ngài là đấng thánh qua những cuộc thần hiển (ở Sinai Xh 19). Sự hiện diện của Ngài được biểu lộ ra qua đám mây, hòm bia, đền thờ, vinh quang (Ed 1,1-28). Không ai thấy Ngài mà sống được (Is 6,1- 5; Xh 33,18-23). Vậy sự thánh thiện có tính siêu việt và xa cách. Nhưng Ngài cũng là thánh qua tình yêu nhân từ và tha thứ (Hs 11,9), qua việc cứu độ cứu chuộc dân của Ngài và ban cho họ sự sống (Is 10,20; 17,7). Thế giới linh thánh vừa khiến con người sợ hãi, muốn tránh xa, vừa quyến rũ con người đến gần thờ lạy.
Thiên Chúa yêu dân thánh Israel của Ngài: dân được tách ra từ muôn dân, thành dân riêng sở hữu của Thiên Chúa. Dân Israel không những cần có sự thánh thiện do nghi lễ (ritual, Xh 19,10-22) mà còn cần sự thánh thiện về đời sống luân lý (moral) nữa. Đức Chúa phán với ông Môsê: “Hãy nên thánh vì Ta, Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi, Ta là thánh” (Lv 19,1-2; x. 20,26). Ngay sau khi kêu mời dân nên thánh thì Đức Chúa cho biết muốn nên thánh phải làm gì (Lv 19,3-37). Nói chung là phải thực hành những đòi hỏi của Giao ước, trong tương quan đối với Đức Chúa và tha nhân. Nếu con cái Israel giữ những đòi buộc của giao ước thì như ĐỨC CHÚA nói với Môsê: “giữa hết mọi dân, các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta (o^rì).. .Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư tế, một dân thánh (qados)” (Xh 19,5-6; x. Đnl 26,17-19; 28,9). Như vậy chỉ khi dân Israel giữ Mười Điều Răn, Thiên Chúa mới làm họ nên dân thánh. Thánh vịnh 24,3-4 cũng nói lên đòi hỏi luân lý đối với người đi viếng Đền Thờ: “Ai được lên núi Chúa? Ai được ở trong đền thánh của Người? Đó là kẻ tay sạch lòng thanh, chẳng mê theo ngẫu tượng, không thề gian thề dối.”
ĐỨC GIÊSU VÀ NHỮNG NẺO ĐƯỜNG NÊN THÁNH
Thiên sứ Gabriel nói với Đức Maria: Người sẽ là Đấng thánh (Lc 1,35). Quỷ cũng gọi Đức Giêsu là Đấng Thánh (Mc 1,24; 3,11). Đức Giêsu làm phép lạ nhằm bày tỏ sự thánh thiện của Ngài. Ngài gọi Thiên Chúa là Cha chí thánh (Ga 17,11). Sự thánh thiện của Đức Giêsu thì đồng nhất với sự thánh thiện của Cha, nhưng vượt trội sự thánh thiện rất tương đối của các thánh nhân thời Cựu Ước.
Nên thánh nhờ yêu kẻ thù
Trong Bài Giảng trên Núi, Đức Giêsu kêu mời môn đệ: “Các con hãy nên hoàn thiện như Cha các con ở trên trời” (Mt 5,48). Theo mạch văn này, hoàn thiện như Cha trên trời là có khả năng yêu kẻ thù, vì Cha là Đấng “cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” (Mt 5,45). Chính khả năng yêu kẻ thù làm cho ta trở nên giống Cha, trở nên “con cái của Cha, Đấng ngự trên trời.” Trở nên hoàn thiện là trở nên thánh. Trong Tin Mừng Luca, Đức Giêsu lại mời gọi: “Các con hãy có lòng thương xót như Cha các con là Đấng hay thương xót” (Lc 6,36). Bối cảnh của câu này cũng là yêu kẻ thù, vì Thiên Chúa nhân hậu với cả phường vô ân và quân độc ác” (Lc 6,35). Hơn nữa, có lòng thương xót được hiểu là đừng xét đoán hay lên án, nhưng hãy tha thứ và cho (Lc 6,37-38). Như thế Đức Giêsu mời gọi mọi tín hữu nên thánh bằng cách bắt chước chính Thiên Chúa. Thư 1 Phêrô cũng mời kitô hữu “hãy nên thánh trong mọi cách ăn nết ở” (1Pr 1,15-16).
Nên thánh là để Chúa Giêsu chiếm lấy mình
Nên thánh là dần dần để Chúa Giêsu chiếm lấy mọi ngõ ngách của đời mình, tư tưởng, lời nói và hành động, ý thức, tiềm thức và vô thức, là để cho cái tôi của mình nhỏ lại, lùi bước và nên một với Ngài, như thánh Phaolô đã nói: “Tôi sống nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20). Vậy nên thánh là để cho sức sống của Chúa Giêsu phục sinh chi phối trọn vẹn đời mình. Đây cũng là điều ta nghe trong Tin Mừng theo thánh Gioan: “Hãy ở lại trong Thầy và Thầy ở trong anh em.. .Thầy là cây nho, các con là cành. Ai ở lại trong Thầy, và Thầy ở trong người ấy, người ấy sinh nhiều trái, vì không có Thầy, các con không thể làm được gì” (Ga 15, 4-5). Chúng ta là cành nho tiếp nhận nhựa sống từ thân cây nho Giêsu, nên không thể có chuyện nên thánh ngoài Giêsu.
Nên thánh là đi vào Đường của Thầy Giêsu
“Thầy là Đường, và là Sự Thật, và là Sự Sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,6). Đó là ý của Chúa Cha (Ga 6,40). Vậy ơn cứu độ chỉ đến qua Đường Giêsu. Nên thánh cũng vậy, phải đi Đường Giêsu, phải đi theo Giêsu: “Ai muốn theo Ta hãy.” Thánh Gioan đã viết một câu rất hay: “Ai nói rằng mình ở lại trong Người (=Thiên Chúa), thì cũng phải đi như chính Đấng ấy (= ekeinos = Đức Giêsu) đã đi” (1 Ga 2,6). Đi chung đường với Giêsu là đi con đường Vượt Qua, con đường từ bỏ chính mình, con đường vác thánh giá theo sau Giêsu. Đường thánh giá là con đường để nên thánh. Thánh Têrêsa Avila đã viết: “Rất nhiều lần do kinh nghiệm, tôi nhận thấy một điều mà Chúa cũng nói cho tôi biết và tôi dám nói là tôi đã nhìn thấy tận mắt, đó là: chúng ta phải vào qua cửa này, nếu chúng ta muốn được Thiên Chúa uy nghi cao cả cho biết những điều huyền nhiệm và bí ẩn. Không được tìm con đường nào khác, cho dù đã đạt tới tuyệt đỉnh chiêm niệm. Trên con đường này, người ta bước đi an toàn vững chắc.Quan sát kỹ cuộc đời của Người, chúng ta sẽ thấy không có gương nào tốt lành và trọn hảo hơn để mà bắt chước.” (Sách Sự Sống, 22)
Chúng ta được mời trở nên hoàn thiện, thương xót như Thiên Chúa, nhưng từ khi Đức Giêsu, Con Thiên Chúa sinh xuống làm người, hiện thân hoàn hảo của Thiên Chúa chí thánh, và là Đấng Thánh, thì ta có thể trở nên thánh nhờ bắt chước Ngài và nên một với Ngài. Sống như Giêsu khi Ngài mang phận người, đó là con đường cụ thể và gần gũi để ta nên thánh .
Theo thánh Phaolô, chúng ta được trở nên thánh nhờ Đức Kitô Giêsu (1 Cr 1,2; 6,11). Trong các thư chính thức của thánh Phaolô (trừ 1 Th và Gl), các kitô hữu được gọi là các thánh (hagioi. Rm 1,7; 2 Cr 1,1). Đối với Phaolô, Thiên Chúa đã làm cho Đức Kitô Giêsu thành “sự thánh hóa” (hagiasmos) của chúng ta (1 Cr 1,30).
Nên thánh nhờ làm người như Đức Giêsu
Nên thánh nhờ bắt chước con người và tinh thần Đức Giêsu trong các sách Tin Mừng. Đây là con đường có vẻ gần gũi, đơn sơ, dễ đi. Chúng ta cần tập đọc, nghiền ngẫm các sách Tin Mừng, chiêm ngắm khuôn mặt của Đức Giêsu khi làm người ở đời, nghe những lời Ngài nói và thấy những việc Ngài làm. Từ đó hình ảnh của Đức Giêsu dần dần biến đổi cuộc sống của chúng ta, in đậm nét trên chúng ta, đến nỗi chúng ta trở nên thánh như chính Ngài là Đấng thánh.
- Đức Giêsu bênh vực các môn đệ khi họ bứt lúa, không rửa tay trước khi ăn, không ăn chay (Mt 12, 1; 15, 1; 9, 14). Chúng ta học được sự mềm mại khi áp dụng mọi luật lệ. Học biết phán xét người khác với nhiều tình yêu, đặt mình trong hoàn cảnh của họ, không vì nệ luật mà quên con người.
- Ngài chịu đựng sự cứng lòng và sự chậm hiểu của họ (Mc 8,14-21).
- Ngài tha thứ những sa ngã, phản bội, chạy trốn của các môn đệ. Đức Giêsu chắc đã rửa chân cho Giuđa, đã đón nhận nụ hôn phản bội của anh. Ngài đã tha thứ cho Phêrô và vẫn coi ông là người đứng đầu Nhóm Mười Hai. Ngài đã dám nhận vào nhóm một người thu thuế, bị xã hội coi khinh.
- Ngài tin tưởng trao mọi quyền mình có cho các môn đệ, quyền rao giảng, trừ quỷ, chữa bệnh (Mc 6,12-13). Mọi sự Ngài làm, Ngài chia sẻ hết cho các ông.
- Ngài mời họ cộng tác vào sứ mạng của ngài, ngài sai họ đi: hãy đi rao giảng, hãy phân phát bánh và cá cho dân chúng, hãy chăn dắt chiên của Thầy (Mc 6,41).
- Ngài dám bắt buộc họ qua bờ bên kia khi họ đang ngây ngất trước thành công của phép lạ nhân bánh (Mc 6,45; 1,37-38; Mc 4,40). Ta học được tính cương quyết của nhà giáo Giêsu, chấp nhận đưa môn đệ vào hoàn cảnh khó khăn cần phấn đấu nỗ lực mới vượt qua được.
- Ngài đã đồng hành với hai môn đệ về Emmau, đã gợi chuyện, đã lắng nghe, đã soi sáng...
- Ngài dạy các môn đệ từ những biến cố thực tế hằng ngày. Khi họ quên đem bánh (Mc 8,14), khi họ cãi nhau trên đường (Mc 9,33-35); khi họ ghen tức, độc quyền, phe nhóm (Mc 9,38); khi họ khó chịu vì trẻ em quấy rầy (Mc 10, 13); khi họ tranh ghế tả hữu (Mc 10,37); khi Ngài thấy bà góa nghèo bỏ tiền (Mc 12,41). Nghe những giáo huấn của Ngài, chúng ta thay đổi cái nhìn của chúng ta.
Nên thánh và các Mối Phúc
Trong Tông huấn về ơn gọi nên thánh trong thế giới ngày nay Gaudete et Exsultate, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói về các Mối Phúc (số 63-94). Ngài viết: “Từ ‘hạnh phúc' hay ‘được chúc phúc' trở thành từ đồng nghĩa với “thánh thiện” (số 64). Nói cách khác, người được chúc phúc là người thánh thiện trước mặt Chúa. Trong phụng vụ lễ Các Thánh, Giáo Hội cho chúng ta nghe bài Tin Mừng về các Mối Phúc. Các Mối Phúc là những con đường nên thánh. Đức Giêsu đã sống tận căn các Mối Phúc này trong đời Ngài. Tuy nhiên, không phải chỉ có 4 Mối Phúc theo Luca (6,20-23) hay có 8 hoặc 9 Mối Phúc theo Mátthêu (5,1-12). Các sách Tân Ước còn nói đến những Mối Phúc khác. Sau đây là một số mối phúc.
“Này anh Simon con ông Giô na, anh thật là người có phúc (macarios), vì không phải thịt và máu đã mặc khải cho anh, nhưng Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 16,17).
“Khi chủ về mà thấy đầy tớ ấy đang làm như vậy, thì thật là phúc cho anh ấy” (Mt 24,46 // Lc 12,37-38).
“Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” (Lc 1,45).
“Phúc thay những người không thấy mà tin” (Ga 20,29).
“Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm! Nhưng Người đáp lại: Đúng hơn phải nói rằng: “Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ Lời Thiên Chúa” (Lc 11,27; x. Kh 1,3).
“Anh em biết những điều đó, nếu anh em thực hành, thì phúc cho anh em !” (Ga 13,17).
“Phải nhớ lại những lời chính Chúa Giêsu đã nói: ‘Cho thì có phúc hơn là nhận'” (Cv 20,35).
“Hỡi những kẻ được Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn.” (Mt 25,34).
“Hãy mời những người nghèo... Họ không có gì đền đáp, và như thế, ông thật có phúc, vì ông sẽ được đền đáp khi các người công chính sống lại” (Lc 14,14).
“Phúc thay ai không cho mình là có lỗi khi quyết định làm điều gì !” (Rm 14,22).
“Phúc thay những kẻ giặt sạch áo mình, để được quyền hưởng dùng cây sự sống.” (Kh 22,14; x. 7,14).
“Nếu anh em chịu khổ vì sống công chính, thì anh em thật có phúc !” (1 Pr 3,14).
“Nếu bị sỉ nhục vì Danh Đức Kitô, anh em thật có phúc.” (1 Pr 4,14).
“Phúc thay người biết kiên trì chịu đựng cơn thử thách... kẻ ấy sẽ lãnh phần thưởng là sự sống. (Gc 1,12).
Môn đệ là người được thánh hiến
Trong lời cầu nguyện của Đức Giêsu trước khi bước vào Cuộc Khổ Nạn, ở chương 17 của Tin Mừng theo thánh Gioan, ta thấy mối quan tâm của Đức Giêsu về các môn đệ. Ngài cầu nguyện với Cha cho họ bởi lẽ “Con không còn ở trong thế gian nữa, nhưng họ, họ ở trong thế gian” (Ga 17,11). Dù thế gian là một thế lực chống đối và nguy hiểm, nhưng Đức Giêsu vẫn “không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần” (Ga 17,15). Các môn đệ là những người được Cha hay Thầy Giêsu chọn từ thế gian: “Những kẻ Cha đã chọn khỏi thế gian (ek tou kosmou) mà ban cho Con" (Ga 17,6), hay “Thầy đã chọn anh em khỏi thế gian (ek tou kosmou), nên thế gian ghét anh em” (Ga 15,19). Nhưng chọn họ ra khỏi thế gian là để sai họ vào thế gian: “Như Cha đã sai Con vào thế gian (eis ton kosmon), thì Con cũng sai họ vào thế gian” (Ga 17,18). Tuy nhiên, sai vào thế gian mà lại không được thuộc về thế gian (ek tou kosmou): “Họ không thuộc về thế gian cũng như con đây không thuộc về thế gian” (Ga 17,16; x. 17,14).
Ta có thể tóm lại các ý trên như sau: các môn đệ được chọn khỏi thế gian (ek tou kosmou), rồi lại được sai vào trong thế gian (eis ton kosmon), để sống trong thế gian (en tô kosmô), nhưng lại không được thuộc về thế gian (ek tou kosmou). Có cái gì giằng co, biện chứng trong thân phận người môn đệ ở thế gian này. Vừa được chọn ra khỏi, vừa được sai vào; vừa sống trong nhưng lại không được thuộc về. Chính vì thế gian này tội lỗi mà người môn đệ được sai vào để tiếp tục sứ mạng của Thầy Giêsu trong thế gian ấy (x. Ga 17,4). Người môn đệ phải sống trong thế gian để biến đổi thế gian. Họ “là của Cha” (Ga 17,6.9), chứ “không thuộc về thế gian.” Điều này làm nên sự thánh thiện của người môn đệ Thầy Giêsu. Thánh thiện là được tách riêng ra để thuộc về Thiên Chúa, để dành riêng cho Thiên Chúa. Chính trong bối cảnh này mà Đức Giêsu nài xin Cha: “Xin Cha thánh hiến (hagiason) họ trong sự thật. Lời Cha là sự thật” (Ga 17,17). Và Đức Giêsu cũng muốn đóng góp vào việc thánh hiến các môn đệ: “Và vì (huper) họ, Con thánh hiến (hagiazô) chính mình Con, để họ cũng được thánh hiến (hêgiasmenoi) trong sự thật” (Ga 17,19).
Tin Mừng thánh Máccô (3,13-15) cũng có những yếu tố tương tự như Tin Mừng Gioan khi viết về ơn gọi của Nhóm Mười Hai: Đức Giêsu gọi những kẻ Người muốn (c.13) = tách họ khỏi đám đông. Ngài cho các ông ở với Người (c. 14a) = thuộc về Người. Và để Người sai các ông đi rao giảng và trừ quỷ (c. 14b = sai vào thế gian).
CON ĐƯỜNG NÊN THÁNH CỦA CHÚNG TA
Từ khi được rửa tội, được xức dầu thánh, ta đã thuộc trọn về Thiên Chúa rồi. Ta đã là thánh rồi. Chúng ta phải sống ơn gọi nên thánh của mình. Sống giữa cuộc đời đầy những cám dỗ, cạm bẫy, thách đố, áp lực, căng thẳng... chúng ta nhiều khi không dám nghĩ đến ơn gọi nên thánh. Có khi chỉ dám xin ơn đừng sa hỏa ngục thôi. Chúng ta nghĩ nên thánh là chuyện của các thánh trong sách, hay của các vị ẩn tu. Ta tưởng nên thánh là phải làm được phép lạ cả thể, phải cầu nguyện nhiều giờ mỗi ngày.
Thật ra nên thánh là điều nằm trong tầm tay của chúng ta, vì Chìa muốn ban cho ta đủ ơn để nên thánh. Nên thánh là tập sống những điều nho nhỏ hằng ngày. Đừng nghĩ đến những việc cao xa, vĩ đại. Nếu nghĩ như thế, chúng ta sẽ dễ nản lòng, không dám muốn nên thánh nữa. Nên thánh là tập làm những việc bình thường với nhiều tình yêu. Cứ làm nhiều lần cho đến khi thành thói quen, ta sẽ nên thánh. Nên thánh không phải là việc ngày một ngày hai là xong, nhưng là một tiến trình từ từ tiệm tiến. Xin gợi ý thêm vài con đường nên thánh.
1. Nên thánh là có khả năng lắng nghe và chiều theo những đòi hỏi nho nhỏ của CHÚA. Chìa vẫn gợi lên cho ta ý muốn của Ngài trong từng giây phút. Coi ý Chìa trọng hơn ý mình. Lạy Cha xin đừng theo ý Con, nhưng theo ý Cha. Vui vì biết mình làm đúng ý Chúa, dù phải trả giá. “Không mong chờ phần thưởng nào ngoài việc biết mình đã thi hành ý Chúa” (Kinh xin ơn Quảng Đại).
2. Nên thánh là biết đón nhận những gì không thể đổi. Đón nhận những giới hạn của bản thân, của gia đình mình, của người khác.
3. Nên thánh là luôn tạ ơn Chúa. Luôn tìm ra cái hay, cái tốt của những gì Chúa để xảy ra cho mình. Tìm thấy trong mọi biến cố bàn tay yêu thương của Chúa. Chẳng có gì là hoàn toàn tồi tệ. Tìm cách ghép những mảnh rời rạc và vô nghĩa để ra một bức tranh có ý nghĩa.
4. Nên thánh là tập mỉm cười trước những khó chịu, trái ý, bực bội mình gặp mỗi ngày. Thánh nhân là người có óc hài hước, làm cho người khác vui, thay vì hay phản kháng, càm ràm, than thở, nhăn nhó... Biến những khó chịu thành chuyện vui, để những chuyện đó không ảnh hưởng được trên tình cảm của mình.
Kinh của thánh Thomas More được ĐGH Phanxicô khuyên đọc: Tôi khuyến khích dùng lời cầu nguyện được cho là của Thánh Thomas More: “Lạy Chúa, xin cho con một bộ máy tiêu hóa tốt, và cũng cho con có cái gì đó để tiêu hóa! Xin cho con một thân thể khỏe mạnh, và khiếu hài hước lành mạnh cần thiết để giữ sức khoẻ ấy. Xin cho con một tâm hồn đơn sơ, biết trân trọng tất cả những gì tốt lành, và không dễ nao núng trước sự dữ, nhưng biết tìm cách trả mọi thứ về đúng chỗ của nó. Xin cho con một tâm hồn không biết chán, không cằn nhằn, không thở dài than vãn, không căng thẳng quá đáng do cái tôi cồng kềnh. Lạy Chúa, xin cho con khiếu hài hước tốt lành. Xin cho con ơn biết nói đùa, biết khám phá chút niềm vui trong cuộc sống, và biết chia sẻ niềm vui ấy cho tha nhân.”[2]
2. Trong một thế giới chỉ biết ganh đua, cạnh tranh, đấu đá, Nên thánh là biết nhường và nhịn, không đòi điều mình có quyền đòi (Pl 2,6-11). “Hạ mình hằng ngày của những người giữ thinh lặng để cứu vãn gia đình mình, những người mau mắn khen ngợi người khác hơn là khoác lác về mình, những người chọn những công việc hèn mọn nhất, và đôi khi ngay cả chọn chịu sự bất công để dâng cho Chúa” (Gaudete et Exsultate, 119). Nhường bước, nhường đường, nhường một câu nói, nhường một quyền lợi mình được hưởng. Nhường thường đi với nhịn. Nhịn cũng hay đi với nhục.
3. Nên thánh là chịu đựng một người sống gần bên, người bạn cùng làm việc với mình, người chỉ huy mình. Chấp nhận những người mình phải gánh trên vai. Không dám xin Chúa cất đi hay đòi Chúa phải biến đổi người ấy. Chỉ xin cho mình có đủ sức để chịu đựng.
4. Nên thánh là làm những điều chẳng ai biết mà cám ơn, chỉ một mình Chúa biết. Như thế tạo ra một không gian riêng tư để mình ở một mình với Chúa. Chúa biết mình là quá đủ. Chúa thấy mình thế nào thì mình là thế ấy.
5. Nên thánh là làm gì cũng nghĩ đến người khác. Không nghĩ đến lợi cho mình hay gia đình mình. Chấp nhận thiệt thòi về phía mình để tạo ra sự công bằng nào đó.
6. Nên thánh là quay đi trước những cám dỗ. Mỗi người có cám dỗ riêng. Cám dỗ nào cũng ngọt ngào, hấp dẫn. Nó cho ta thứ khoái lạc mà nếm rồi là ghiền, khó bỏ. Quay đi không dễ. Ta cứ bị vương vấn hoài, tiếc nuối vì phải bỏ. Có những cơn cám dỗ ta chỉ thắng được nhờ quay đi, chứ không nhờ quay lại mà chiến đấu.
7. Nên thánh là chu toàn bổn phận, dù nhàm chán. Yêu mến sự đều đặn, buồn tẻ. Trung thành với việc phải làm, dù có ngày mệt mỏi, muốn bỏ cuộc. Làm việc chỉ vì yêu mến Chúa.
Ngoài những gợi ý trên đây, mỗi người cần tìm xem đâu là con đường nên thánh mà Chúa muốn bản thân mình theo đuổi.
KẾT LUẬN
Khi nghĩ đến Các Thánh, chúng ta thường ngước nhìn lên những vị đã chiến thắng khải hoàn trên trời.
Nhưng chúng ta cũng nên nhìn quanh chúng ta để nhận ra những con người đang trên đường nên thánh, đang nỗ lực trở nên hoàn hảo như Cha trên trời. Phải nhạy bén mới nhận ra được những nét thánh thiện của bao người ta gặp hằng ngày trên đường. Những người đang sống các mối phúc đặc biệt một cách bình thường hay khó khăn.
Chính chúng ta cũng thuộc về Dân Thánh nhờ bí tích Thánh Tẩy, đã được xức Dầu thánh, và đang trở nên thánh, nhờ nên giống Đức Giêsu ngày một hơn. Chúng ta không thể bắt chước hết mọi nét đẹp nơi con người Đức Giêsu, nhưng chúng ta có thể yêu thích và say mê một nét nào đó của Ngài. Chính Chúa Giêsu đang mời ta nên thánh qua việc gợi lên trong ta niềm say mê đó.
Trích Tập san Hiệp Thông / HĐGMVN Số 115 (tháng 11 & 12, năm 2019)




[1] Ngoài động từ qadas, còn động từ nazar (רַזָנ) cũng có nghĩa là thánh hiến hay tách riêng. Nazir (יִזָנרlà người được thánh hiến (Ds 6,2). Họ thường không cắt tóc, uống rượu hay đụng chạm người chết.
[2] “I recommend praying the prayer attributed to Saint Thomas More: “Grant me, O Lord, good digestion, and also something to digest. Grant me a healthy body, and the necessary good humour to maintain it. Grant me a simple soul that knows to treasure all that is good and that doesn't frighten easily at the sight of evil, but rather finds the means to put things back in their place. Give me a soul that knows not boredom, grumbling, sighs and laments, nor excess of stress, because of that obstructing thing called ‘I'. Grant me, O Lord, a sense of good humour. Allow me the grace to be able to take a joke and to discover in life a bit of joy, and to be able to share it with others.” Đây là footnote của Gaudete et Exultate, 126.

ĐTC Phanxicô: Lời cầu nguyện của những người công chính

ĐTC Phanxicô: Lời cầu nguyện của những người công chính
(Tiếp kiến chung, 27-05-2020)
Hồng Thủy - Vatican News
Đức Thánh Cha Phanxicô nói rằng bất chấp tội lỗi lan tràn, có những người "có khả năng cầu nguyện với Thiên Chúa một cách chân thành, có khả năng viết số mệnh của con người theo một cách khác". Và ngài yêu cầu dạy các trẻ em làm dấu Thánh Giá, "lời cầu nguyện đầu tiên".
Sáng thứ Tư 27/05, Đức Thánh Cha Phanxicô vẫn tiếp tục buổi tiếp kiến chung trực tuyến từ Thư viện Dinh Tông Tòa. Trong bài giáo lý, ngài nói về chủ đề lời cầu nguyện của những người công chính.
Đức Thánh Cha nhắc lại các chương đầu của sách Kinh Thánh với sự xuất hiện và lan rộng của sự dữ và tội lỗi trong thế giới con người. Dù chúng ta cảm thấy sự hiện diện của sự ác trên thế giới, nhưng kế hoạch của Thiên Chúa dành cho con người là tốt lành. Bên cạnh Cain ganh tị ác độc, có Abel, Sết, Ênốt và Nôê, những người khiêm nhường, chân thành cầu nguyện với Thiên Chúa. Những người công chính này là người kiến tạo hòa bình và họ cho thấy rằng lời cầu nguyện đích thực giải thoát khỏi khuynh hướng bạo lực; nó là cái nhìn hy vọng hướng về Thiên Chúa; nó có thể nuôi dưỡng sự sống mới thay cho sự khô cằn của hận thù.
Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu, như những người công chính trong Kinh Thánh không ngừng cầu khẩn, hãy cầu nguyện để chính mình được biến đổi, vâng theo ý Chúa, và cầu nguyện cho thế giới, xin Thiên Chúa hoàn thành hoạt động biến đổi trái tim con người. Ngài cũng nhắc hãy dạy cho trẻ em cầu nguyện, trước hết là biết làm dấu Thánh Giá. Đức Thánh Cha bắt đầu bài giáo lý như sau:
Tội lỗi lan tràn trong thế giới con người
Kế hoạch của Thiên Chúa dành cho con người là tốt lành, nhưng trong cuộc sống hàng ngày chúng ta lại nhận thấy có sự hiện diện của sự dữ. Những chương đầu tiên của sách Sáng Thế miêu tả sự phát triển, lan rộng của tội lỗi trong cuộc sống con người. Ông Adam và bà Evà (x. St 3,1-7) nghi ngờ ý định nhân lành của Thiên Chúa, nghĩ rằng họ đang gặp một vị thần ghen tương, ngăn cản họ được hạnh phúc. Từ đó, họ nổi loạn: họ không còn tin vào một Đấng Tạo Hóa quảng đại, mong muốn họ được hạnh phúc. Tâm hồn họ chiều theo cám dỗ của kẻ xấu, bị ảo tưởng về sự toàn năng: "Nếu chúng ta ăn trái của cây, chúng ta sẽ trở nên giống Thiên Chúa" (x. c. 5). Đây là cám dỗ, là tham vọng len vào tâm hồn. Nhưng họ đã gặp phải điều ngược lại: mắt họ mở ra và họ thấy mình trần truồng (c. 7).
Sự dữ càng trở nên tàn phá hơn trong thế hệ con người thứ hai: đó là câu chuyện về Cain và Abel (x. St 4,1-16). Cain ghen tị với em mình; mặc dù là con đầu lòng, anh coi Abel là đối thủ, người đe dọa quyền trưởng tử của anh ta. Sự ác xuất hiện trong trái tim Cain và anh ta không thể chiến thắng nó. Sự ác bắt đầu đi vào tâm lòng: nhìn người khác với những ý tưởng xấu, nghi ngờ. “Tên này là người xấu, sẽ hại mình.” Và thế là câu chuyện về tình huynh đệ đầu tiên kết thúc bằng một vụ giết người. Tôi nghĩ về tình huynh đệ nhân loại ngày nay: chiến tranh ở khắp nơi.
Hậu duệ của Cain phát triển các nghề thủ công và nghệ thuật, nhưng cũng phát triển bạo lực, được thể hiện qua bài ca độc ác của Laméc, nghe như một bài thi ca báo thù: “Vì một vết thương, ta đã giết một người; vì một chút sây sát, ta đã giết một đứa trẻ. Cain sẽ được báo thù gấp bảy, nhưng Laméc thì gấp bảy mươi bảy lần!” (St 4,23-24). Báo thù là thế này: bạn gây ra thì bạn phải đền trả. Nhưng quan tòa không nói điều này, mà là tôi nói. Tôi biến mình thành quan tòa. Và thế là tà ác lan truyền như dầu loang, cho đến khi nó chiếm trọn bức tranh: " Đức Chúa thấy rằng trên mặt đất sự gian ác của con người quả là nhiều, và suốt ngày lòng nó chỉ toan tính những ý định xấu." (St 6,5). Các bức bích họa lớn về trận đại hồng thủy (chương 6-7) và tháp Babel (chương 11) cho thấy rằng cần có một khởi đầu mới, như một sáng tạo mới, sẽ được hoàn thành trong Chúa Kitô.
Lời cầu nguyện của những người công chính
Tuy nhiên, trong những trang đầu tiên của Kinh Thánh, một câu chuyện khác cũng được thuật lại, ít nổi bật hơn, khiêm tốn và đạo đức hơn nhiều, đại diện cho sự cứu rỗi của hy vọng. Ngay cả khi hầu hết mọi người cư xử một cách tàn bạo, tạo nên thù hận, vẫn có những người có thể cầu nguyện với Thiên Chúa một cách chân thành, có khả năng viết lại số phận của con người theo một cách khác. Abel dâng cho Thiên Chúa của lễ hy sinh là những hoa trái đầu mùa. Sau khi Adam chết, ông Adam và bà Evà có người con thứ ba, đó là Sết, người sinh ra Ênốt, và Sách Thánh nói: "Lúc đó, người ta bắt đầu kêu cầu danh Đức Chúa" (4,26). Sau đó, Khanốc ra đời; ông là một người "bước đi với Chúa" và được Thiên Chúa “bắt cóc” đưa lên thiên đàng (x. 5,22.24). Và cuối cùng là câu chuyện về ông Nôê, một người công chính đã "bước đi với Chúa" (6,9); qua ông, Thiên Chúa đã rút lại ý định xóa sổ loài người (x. 6,7-8).
Cầu nguyện giải thoát khỏi bản năng bạo lực, hướng về Thiên Chúa xin Người biến đổi trái tim chúng ta
Đọc những câu chuyện này, chúng ta có ấn tượng rằng cầu nguyện vừa là bờ đê vừa là nơi ẩn náu của con người trước làn sóng tràn đầy sự ác đang phát triển trên thế giới. Quan sát kỹ hơn, chúng ta cũng cầu nguyện để được cứu khỏi chính mình. “Lạy Chúa xin cứu con khỏi chính con, khỏi những tham vọng, đam mê của con.” Những người cầu nguyện trong những trang đầu tiên của Kinh Thánh là những người hoạt động vì hòa bình: thực tế, khi lời cầu nguyện là đích thực, nó giải thoát khỏi bản năng bạo lực và nó là một cái nhìn chăm chú vào Thiên Chúa, xin Người quay lại chăm sóc trái tim của con người. Sách Giáo lý viết: "Phẩm chất cầu nguyện này được sống bởi vô số người công chính trong tất cả các tôn giáo" (GLHTCG, 2569). Cầu nguyện vun trồng những bông hoa tái sinh ở những nơi mà lòng thù hận của con người chỉ có thể làm cho sa mạc lan rộng. Lời cầu nguyện có sức mạnh, bởi vì nó lôi kéo quyền năng của Thiên Chúa và quyền năng của Chúa luôn ban sự sống. Đó là Thiên Chúa của sự sống và làm cho tái sinh.
Đây là lý do tại sao vương quyền của Thiên Chúa đi qua những thế hệ con người nam nữ này, những người thường bị hiểu lầm hoặc bị loại ra ngoài lề trên thế giới. Nhưng thế giới sống và phát triển nhờ sức mạnh của Thiên Chúa được ban nhờ lời cầu nguyện của những người phục vụ Người. Họ là những con người không ồn ào, hiếm khi trở thành các tiêu đề, nhưng điều rất quan trọng là họ khôi phục niềm tin cho thế giới!
Hãy dạy trẻ em làm dấu Thánh Giá - lời cầu nguyện đầu tiên
Giải thích cho điều vừa nói, Đức Thánh Cha kể câu chuyện về một nhà lãnh đạo vô thần. Trong lòng ông không có cảm thức tôn giáo, nhưng ông đã nghe bà của mình cầu nguyện từ khi còn nhỏ và lời cầu nguyện đó đọng lại trong lòng ông. Rồi trong một thời điểm khó khăn trong cuộc sống, kỷ niệm đó trở lại trong lòng ông. Ông bắt đầu cầu nguyện như bà của ông và ông đã tìm gặp được Chúa Giêsu. Đức Thánh Cha nhận định: Lời cầu nguyện là một chuỗi cuộc sống. Nhiều người cầu nguyện và gieo rắc sự sống…. Và ngài nhắc nhở: “Dạy cho trẻ em cầu nguyện là điều quan trọng. Tôi thấy đau lòng khi gặp các trẻ em và bảo ‘con hãy làm dấu Thánh giá' và các em không biết làm. Hãy dạy các em làm dấu Thánh giá, đó là lời cầu nguyện đầu tiên. Có thể các em sẽ quên, sẽ đi theo con đường khác. Nhưng điều đó lưu lại trong lòng các em, bởi vì đó là hạt giống sự sống, hạt giống đối thoại với Thiên Chúa.
Hành trình của Thiên Chúa trong lịch sử của Thiên Chúa đã đi ngang qua họ: nó đã đi qua một "phần còn lại" của loài người, những người không khuất phục trước luật lệ của kẻ mạnh nhất, nhưng cầu xin Thiên Chúa thực hiện các phép lạ của Người, và trên hết là biến đổi trái tim bằng đá của chúng ta thành trái tim bằng thịt (x. Ed 36,26). Và điều này giúp cho việc cầu nguyện, bởi vì cầu nguyện mở lòng ra với Thiên Chúa, biến đổi trái tim cứng cỏi của chúng ta thành trái tim con người.

Lễ Hiện Xuống: Trưởng thành trong đức tin


 
  •  
  •  
LỄ HIỆN XUỐNG: TRƯỞNG THÀNH TRONG ĐỨC TIN
Giuse Phan Quang Trí, O.Carm.Rôma, 29/05/2020
WHĐ (29-05-2020) – Cuối Mùa Phục Sinh, các Kitô Hữu khắp nơi long trọng cử hành Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống với niềm vui khôn tả như mừng ngày khai sinh của Hội Thánh vậy. Nếu như sinh nhật được nhiều người coi là cột mốc đánh dấu cho từng bước phát triển và trưởng thành của một cá nhân hay tổ chức nào đó, thì Lễ Hiện Xuống năm nay là dịp thích hợp để chúng ta cùng suy gẫm về sự trưởng thành của dân Chúa. Cần phải nói ngay, chúng ta không thể đánh giá sự trưởng thành của Hội Thánh Chúa xét như Thân Thể Nhiệm Mầu Đức Kitô (x. Eph 4, 12 & 16) vì Hội Thánh là công trình của chính Thiên Chúa Ba Ngôi cực thánh và Đức Kitô thì “vẫn là một, hôm qua, hôm nay và như vậy mãi đến muôn đời” (Dt 13, 8). Vì vậy, điều chúng ta nhắm đến là tìm hiểu mức độ trưởng thành và tính cấp thiết của đức tin trong công cuộc loan báo Tin Mừng của toàn thể cộng đồng dân thánh Chúa theo biến chuyển thăng trầm của dòng thời gian.
Lịch sử hai ngàn năm của Hội Thánh Chúa Kitô chính là “bản tường trình” đầy đủ và minh bạch nhất về hoạt động của Chúa Thánh Thần, Đấng mà Chúa Giêsu đã hứa ban cho Hội Thánh trước khi Người lìa bỏ thế gian mà trở về cùng Chúa Cha (x. Ga 14, 26). Kể từ khi các Tông Đồ mở toang mọi cánh cửa phòng tiệc ly, mạnh dạn bước ra công khai rao giảng về một Đức Kitô Đấng cứu chuộc nhân loại bằng cái chết và sự phục sinh của Người (x. Cv 2, 14-36), cho đến khi Giáo Hội Công Giáo, qua đường hướng của Công Đồng Vaticanô II, mở bung mọi khung cửa bít bùng, khơi thông lại sự đối thoại đầy cởi mở với mọi nền văn hóa, mọi dân tộc và mọi tôn giáo khác nhau, tác giả của tất cả những biến cố lạ lùng ấy chính Thánh Thần Thiên Chúa, Thần Khí Sáng Tạo, Thần Khí Hiệp Nhất (x. Lumen Gentium, #4). Nhưng có lẽ điều thiết thực nhất chúng ta nên làm trong ngày Lễ Hiện Xuống năm nay đó là xin Chúa Thánh Thần giúp chúng ta biết “tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác” chúng ta (1Cr 6, 20). Nghĩa là chúng ta luôn ý thức rằng Chúa Thánh Thần không chỉ hoạt động nơi Giáo Hội phổ quát nhưng còn hoạt động nơi tâm hồn mỗi người chúng ta: “Anh em chẳng biết rằng, anh em chính là đền thờ của Thiên Chúa và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em hay sao?” (x. 1 Cr 3, 16).
Lễ Hiện Xuống “Đầu Tiên”
Sách Công Vụ Tông Đồ ghi lại rằng vào ngày Lễ Ngũ Tuần, khi các Tông Đồ cùng với Đức Maria và các môn đệ khác (x. Cv 1, 13-14) “đang tề tựu ở một nơi, bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tuỳ theo khả năng Thánh Thần ban cho” (Cv 2, 1-4). Ngày hôm đó, sau khi Đức Chúa Thánh Thần ngự xuống trên các Tông Đồ, các ngài bắt đầu sứ vụ rao giảng Tin Mừng cách công khai. Ngày đó được xem là ngày khai sinh của Hội Thánh hay đúng hơn ngày Hội Thánh được tỏ lộ cho mọi dân mọi nước được xem thấy (x. Lumen Gentium, #2).
Ngày Lễ Hiện Xuống tiên khởi quả thực là một sự kiện lịch sử chấn động địa cầu. Đó là ngày ghi dấu sự trưởng thành nơi các môn đệ, những người đã được chính Chúa Kitô kêu gọi, quy tụ, chuẩn bị và sai đi.  Ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống đánh dấu sự chuyển biến ngoạn ngục nơi con người và hoạt động của các Kitô Hữu đầu tiên: Từ nhát đảm sợ sệt các ngài đã trở thành những chứng nhân kiên cường bất khuất (x. Ga 20, 19; Cv 4, 13 & 32). Từ âm thầm lẩn trốn, các ngài đã mạnh dạn rao giảng công khai (x. Cv 1, 13; Cv 2, 14 & 42). Từ những người thuộc giới bình dân ít học, các ngài trở thành những nhà lãnh đạo tinh thần khôn ngoan và đầy uy quyền (x. Cv 4, 13; Cv 5: 12). Hơn nữa, kể từ ngày Thánh Thần Thiên Chúa ngự xuống trên nhóm người ít ỏi ấy thì “dân Israen mới” của Thiên Chúa (x. Lumen Gentium, #9), tức là Hội Thánh đã liên tục phát triển và lớn mạnh không ngừng (x. Cv 2, 41 & 47).  Giáo Hội tiên khởi khai sinh trong ngày Lễ Hiện Xuống cách đây gần hai ngàn năm là một cộng đoàn đức tin tuy nhỏ bé về số lượng nhưng lại có sức ảnh hưởng vô cùng lớn lao. Cộng đoàn ấy không ngừng lớn mạnh để rồi ngày hôm nay, Hội Thánh Chúa Kitô hãnh diện mang trong mình vinh dự là sự khởi đầu và là nơi thể hiện Nước Thiên Chúa giữa chốn trần gian (x. Lumen Gentium, #5)[1]. Nhờ có Chúa Thánh Thần tác động và hướng dẫn, Hội Thánh đã, đang và sẽ tiếp tục hiện diện giữa trần gian như nắm men đã được chính Chúa Kitô vùi vào đấu bột thế gian hầu làm cho bột ấy ngày càng thêm dậy men Tin Mừng (x. Mt 13, 33).
Cộng đoàn Hội Thánh Chúa không chỉ hãnh diện nhưng còn phải luôn ý thức để thực hiện đúng chức năng và sứ mạng của mình, là muối cho đời và ánh sáng cho trần gian (x. Mt 5, 33-34). Như thế, ngày Lễ Hiện Xuống trước hết là dịp để cho mỗi phần tử của Hội Thánh ý thức hơn nữa về sứ mạng cấp bách Thiên Chúa đã trao phó cho Giáo Hội - sứ mạng loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo (x. Lumen Gentium, # 1). Sau nữa, đây là cơ hội để tất cả Kitô Hữu đáp lại ơn Chúa kêu gọi mà thể hiện trách nhiệm của mình nơi trần gian này. Nếu không phải hôm nay thì đến bao giờ chúng ta mới cộng tác với ơn Chúa Thánh Thần để làm cho cả thế giới bừng sáng “chân lý toàn vẹn” (Ga 16, 13), tràn ngập “niềm vui trọn vẹn” (Ga 17, 13) và thắm thiết tình huynh đệ hiệp nhất yêu thương (x. Ga 17, 21; Cv 2, 44-46)? Bằng chứng cho thấy Chúa Thánh Thần vẫn luôn hiện diện trong Hội Thánh chính là việc Người đã thực hiện hết kỳ công này đến kỳ công khác, mà điển hình là cuộc “hiện xuống mới” nhằm “canh tân và làm cho Giáo Hội luôn tươi trẻ” (Lumen Gentium, #4).
Lễ Hiện Xuống “Mới” 
Năm 1962, khi Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII triệu tập và khai mạc Công Đồng Chung Vaticanô II[2], nhiều người đã hết sức ngỡ ngàng và thậm chí tỏ ra nghi ngại cho sự thành công của sự kiện lớn lao này. Ngày nay, sau 55 năm kể từ ngày bế mạc, những thành tựu vang dội của Công Đồng Vaticano II đã khiến cho mọi người phải thốt lên rằng, sự kiện lịch sử trọng đại đó đích thực là một “Lễ Hiện Xuống” mới cho cả Giáo Hội và nhân loại chúng ta.
Là người triệu tập Công Đồng Chung Vaticanô II, Đức Gioan XXIII cũng đóng vai trò là người đề xuất mục tiêu và đưa ra đường hướng thực hiện cho Công Đồng. Lúc ấy, vị Giáo Hoàng trọng tuổi đã làm cho các cố vấn thân tín phải kinh ngạc khi đặt ra 2 mục tiêu sau đây  cho Công Đồng sắp nhóm họp: đó là “canh tân Hội Thánh” và “theo đuổi tiến trình đại kết”. Cả thế giới sững sờ vì trước đó, chưa có bất kỳ một Công Đồng Chung nào có mục tiêu “lạ lùng” và “táo bạo” đến như vậy. Thêm vào đó, những ý tưởng hết sức mới mẻ và hợp thời như thế không đến từ một vị Giáo Hoàng trẻ trung hiện đại mà lại đến từ một cụ già 77 tuổi, sức khỏe có phần yếu kém. Chính ở điểm này mà chúng ta thấy, ngay từ đầu, Công Đồng Chung Vaticanô II đã có dấu hiệu của một Lễ Hiện Xuống mới. Vì chỉ có Chúa Thánh Thần, Đấng mang sứ mạng “canh tân mặt địa cầu” (x. TV 104, 30) mới có thể biến những điều thế gian cho là cũ kỹ lạc hậu thành nguồn cảm hứng cho những điều mới mẻ diệu kỳ. Rõ ràng Chúa Thánh Thần vẫn ngày đêm hoạt động trong đời sống Giáo Hội, hoạt động nơi đường hướng mục vụ của các vị chủ chăn và hoạt động trong cung lòng của mỗi Kitô Hữu (x. 1 Cor 6, 19). Chính Thần Khí “trẻ trung” ấy đã tác động lên Đức Gioan XXIII để ngài mạnh dạn “mở cửa sổ” đón luồng gió mới thổi sinh khí vào tòa nhà Hội Thánh.

Luồng gió mới của Công Đồng Vaticanô II đã và đang từng bước đem lại sức sống mới cho cả Giáo Hội. Sức sống nảy sinh từ việc chấp nhận tính đa dạng và phong phú. Giáo Hội bắt đầu tiếp xúc với thế giới hiện đại, với các nền văn hóa và các tôn giáo khác bằng đường lối đối thoại cởi mở hơn trước rất nhiều. Giáo Hội không còn nhìn thế giới như kẻ thù cần phải xa lánh nhưng mà là cánh đồng mênh mông cần được chuẩn bị để hạt giống Tin Mừng gieo vào, cắm rễ và trổ sinh tươi tốt. Giáo Hội thay vì kết án và xem các hệ phái Kitô Hữu khác như những “tên phản bội” hay những “kẻ lạc giáo” thì nay cư xử với họ bằng tình huynh đệ, tôn trọng và chân thành lắng nghe. Chẳng phải thánh Phaolô đã xác quyết rằng tinh thần cởi mở, cách thức đối thoại và tình liên đới hiệp nhất là những biểu hiện cụ thể của Thần Khí Thiên Chúa hay sao? (x. Eph 4, 3-6). Chính vì vậy, trong ngày Lễ Hiện Xuống, chúng ta cùng tưởng nhớ đến công trình vĩ đại mà Thiên Chúa đã thực hiện trên Giáo Hội Công Giáo chúng ta ngang qua biến cố Công Đồng Chung đã diễn ra tại tòa thánh Vaticanô cách đây hơn 50 năm. Chúng ta tạ ơn Chúa vì luồng “sinh khí” mới Chúa Thánh Thần đã thổi vào và làm cho Hội Thánh, vốn dĩ là “Hiền Thê xinh đẹp” của Đức Kitô (x. Kh 19, 8), nay càng trở nên tinh tuyền thánh thiện trước mặt người đời.
Một trong những thành quả đặc sắc nhất của Công Đồng Vaticanô II là xóa bỏ mọi định kiến và ngăn cách giữa Giáo Hội và thế giới. Vì thế trách nhiệm của các Kitô Hữu trưởng thành là góp phần làm sự liên đới giữa Hội Thánh và nhân loại ngày càng thêm liền lạc và thắm thiết, hướng đến việc toàn thể nhân loại quy về chỉ một mối, làm nên một dân thánh thờ phượng một Thiên Chúa duy nhất (x. Ad Gentes, #1). Do đó, thật là đáng trách và đáng buồn khi chúng ta, phần tử Hội Thánh, làm lu mờ đi ánh hào quang mỹ miều của Hội Thánh Chúa Kitô bằng lối sống hoàn toàn nghịch lại với đường lối Chúa Thánh Thần. Thật vậy, mỗi khi chúng ta khiêu khích chia rẽ hận thù, cổ võ dối trá, kiêu căng, nóng nảy, giận hờn là chúng ta đang “bôi nhọ” Giáo Hội và trở nên nhân tố cản trở người khác quay về làm hòa với Thiên Chúa qua Hội Thánh. Những hành vi đáng hổ thẹn này vô tình làm cho Hội Thánh xuất hiện với bộ dạng xấu xí và kém thiện cảm trong mắt anh chị em lương dân. Trong ngày kỷ niệm sinh nhật Hội Thánh, Chúng ta hãy bày tỏ tình yêu mến và trách nhiệm của mình đối với mẹ Hội Thánh bằng cách thành tâm kiểm điểm và cương quyết khắc phục sai lầm thiếu sót. 
Lễ Hiện Xuống “Riêng”  
Sứ mạng làm cho ánh sáng Chúa Kitô chiếu dãi khắp thiên hạ không chỉ là nhiệm vụ chung của Giáo Hội phổ quát nhưng còn là trách nhiệm riêng của từng người Kitô hữu. Để toàn thể Giáo Hội chu toàn sứ mạng ấy thì mỗi phần tử phải ý thức làm tròn bổn phận của mình. Bấy lâu nay, nhiều linh mục quản xứ vẫn hay chọn ngày Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống để mời Đức Giám Mục địa phận về ban Bí tích Thêm Sức cho con em trong giáo xứ của mình. Có lẽ là vì mối liên hệ chặt chẽ về phương diện thần học giữa ngày Lễ Chúa Thánh Thần và Bí Tích Thêm Sức. Quả vậy, Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo xác định rằng Bí Tích Thêm Sức “tiếp nối ân sủng của Lễ Hiện Xuống” khi xưa (GLHTCG, #1288). Khi cử hành Bí Tích Thêm Sức, vị thừa tác đặt tay khẩn cầu ơn Chúa Thánh Thần xuống trên các ứng viên lãnh nhận Bí Tích. Đồng thời ngài sức dầu trên trán ứng viên như dấu chỉ “ấn tín ơn Chúa Thánh Thần” xác nhận rằng cuộc đời của người mới lãnh nhận Bí Tích Thêm Sức từ nay bước sang một trang sử mới. Thực vậy, Bí Tích Thêm Sức giúp tăng trưởng và hoàn bị các ơn mà người Kitô Hữu đã lãnh nhận trong Bí Tích Thánh Tẩy (x. GLHTCG, #1303). Nói cách khác, qua Bí Tích Thêm Sức, Chúa Thánh Thần giúp cho người Kitô Hữu trưởng thành hơn trong đời sống làm con cái Chúa (x. Rm 8, 15), giúp cho họ kết hiệp mật thiết với Đức Kitô hơn (x. 1Cr 12, 3), và gắn bó hơn nữa trong đời sống của Giáo Hội (x. 1Cr 12, 4-13.27-30). Nói chung, Bí Tích Thêm Sức đánh dấu sự trưởng thành trong đức tin, khai mở một giai đoạn mới, giai đoạn dấn thân loan báo Tin Mừng và xây dựng Nước Thiên Chúa nơi trần gian. Hiệu năng của Bí Tích Thêm Sức đối với người lãnh nhận không khác gì mấy so với những gì đã xảy ra đối với các Tông Đồ khi xưa trong ngày Lễ Ngũ Tuần. Do đó, chúng ta có thể gọi ngày chúng ta lãnh nhận Bí Tích Thêm Sức là ngày Lễ Hiện Xuống ‘riêng’ trong tâm hồn mỗi người chúng ta.

Nếu ngày Lễ Ngũ Tuần xưa kia, sau khi Chúa Giêsu vừa mới về trời, đánh dấu sự trưởng thành đức tin của các Tông Đồ thì Bí Tích Thêm Sức đánh dấu sự trưởng thành của các Kitô Hữu hôm nay. Đối với Thánh Phaolô, các Kitô hữu trưởng thành trong đức tin là những người không cậy vào “lẽ khôn ngoan của thế gian” nhưng “dựa vào quyền năng Thiên Chúa”. Thánh Tông Đồ còn chỉ cho chúng ta biết rằng đức tin trưởng thành sẽ không dễ dàng bị mê hoặc bởi những lời lẽ khôn khéo của phàm nhân, nhưng chỉ chịu khuất phục bởi “bằng chứng xác thực của Thần Khí và quyền năng của Thiên Chúa” mà thôi (x. 1 Cor 2, 4-6; Eph 4, 14). Thánh Phaolô còn sánh ví những người có lòng tin kém cỏi như những “trẻ nhỏ” và biểu hiện của những kẻ kém tin là sống buông thả theo tính xác thịt; ghen tuông, cãi cọ, tranh giành (x. 1 Cor 3, 1-3). Như một sự tương phản rõ nét, người có đức tin trưởng thành thì hoàn toàn khác. Họ là những người “sống theo Thần Khí” (1 Cor 3,1; x. Rm 8, 5-6) nghĩa là “sống theo sự thật và trong tình bác ái” (Eph 4, 15). Kitô Hữu trưởng thành trong đức tin là những người biết để cho “Thần Khí đổi mới tâm trí” và giúp họ “mặc lấy con người mới”, mặc lấy nếp sống mới, nếp “sống công chính và thánh thiện” (x. Eph 4, 24).
Thật ý nghĩa biết bao, nếu như mỗi người chúng ta ý thức được giá trị cao quý của những món quà chúng ta nhận được trong ngày chúng ta được Thêm Sức. Trước hết là quà tặng Chúa Thánh Thần với 7 ơn cao trọng: Ơn khôn ngoan, ơn hiểu biết, ơn lo liệu, ơn sức mạnh, ơn thông minh, ơn đạo đức và ơn biết kính sợ Chúa (x. GLHTCG, #1831). Để ghi dấu ngày lãnh nhận Bí Tích Thêm Sức, nhiều Giáo xứ hay có thông lệ tặng cho các “chiến sĩ mới” của Đức Kitô mỗi em 1 cuốn Kinh Thánh tượng trưng cho “thanh kiếm Lời Chúa” (x. Eph 6, 17). Đây là việc làm đầy ý nghĩa vì bất cứ chiến sĩ nào cũng cần khí giới trước khi lâm trận. Chúng ta cần phải biết rằng trong cuộc chiến đấu thiêng liêng, chúng ta không đối phó với phàm nhân nhưng là đương đầu với “những thần linh quái ác chốn trời cao.” Cho nên để có thể đứng vững, mỗi Kitô Hữu cần phải mang lấy “toàn bộ binh giáp vũ khí của Thiên Chúa” (x. Eph 6, 12-13). Trong tất cả các khí giới mà Thiên Chúa ban cho, tất cả các Kitô Hữu, đặc biệt là các “tân binh” của Đức Kitô cần phải đặc biệt xem trọng “thanh gươm Lời Chúa.”
Kết: Trưởng Thành Đức Tin cho Sứ Mạng Truyền Giáo
Ngày chúng ta lãnh nhận Bí Tích Thêm Sức sẽ thực sự là ngày Lễ Hiện Xuống mới đối với mỗi người chúng ta nếu chúng ta biết sử dụng tận dụng những món quà và biết sử dụng những phương thế Chúa ban nhằm phục vụ cho sứ mạng loan báo Tin Mừng. Chúng ta cần kiên trì học hỏi và suy gẫm Lời Chúa vì chúng ta không thể Phúc Âm hóa người khác nếu bản thân chưa được Phúc Âm hóa trước. Cũng vậy, để cho hoa trái của Chúa Thánh Thần trổ sinh trong cuộc sống của chúng ta, chúng ta cần nghiêm túc thực hiện lời khuyên của Thánh Phaolô Tông Đồ: “Vâng theo Thần Khí hướng dẫn, anh em hãy tỉnh thức và chuyên cần cầu nguyện, cầu nguyện liên lỉ không chỉ cho bản thân mà còn cho toàn thể dân thánh” (x. Eph 6, 18).
“Các con hãy đi dạy dỗ muôn dân, thanh tẩy họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, hãy dạy dỗ họ vâng giữ mọi điều Thầy đã truyền cho các con. Và đây Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 19-20). Đây là mệnh lệnh Chúa Kitô đã truyền lại cho Giáo Hội thông qua các Tông Đồ. Chính vì thế, Giáo Hội xem lời sau đây của Thánh Tông Ðồ như lời của mình: “Khốn cho thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1 Cor 9, 16). Chúa Thánh Thần thúc đẩy Giáo Hội cộng tác với Ngài để hoàn tất trọn vẹn kế hoạch của Thiên Chúa. Mỗi môn đệ Chúa Kitô đều có bổn phận góp phần truyền bá đức tin. Mọi thành phần trong Giáo Hội vừa cầu nguyện vừa hoạt động để toàn thể vũ trụ trở thành Dân Thiên Chúa, Thân Thể Chúa Kitô và Ðền Thờ Chúa Thánh Thần, và trong Đức Kitô là thủ lãnh muôn loài, mọi danh dự và vinh quang được dâng lên Thiên Chúa Cha Ðấng Tạo Thành trời đất hôm nay và cho đến mãi muôn đời. Amen. (x. Lumen Gentium, #17)


[1] Đồng thời xem phần “Chú giải Mt 13, 31-33” trong Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước: Lời Chúa Cho Mọi Người, tr. 1616.
[2] Công Đồng Chung: là cuộc họp có quy mô lớn nhất trong Giáo Hội Công Giáo Rôma, do Đức Giáo Hoàng triệu tập hầu hết các Giám Mục trên toàn thế giới về một địa điểm nào đó để cùng thảo luận các vấn đề hệ trọng liên quan đến đức tin, luân lý và quản trị của Hội Thánh.