Từ Đức Giáo hoàng Lêô XIII đến Đức Piô XII, từ Thánh Gioan XXIII và Thánh Phaolô VI đến Thánh Gioan Phaolô II và Đức Bênêđictô XVI, từ Đức Phanxicô đến Đức Lêô XIV, trải dài gần 150 năm lịch sử, Học thuyết Xã hội của Giáo hội tiếp tục cho chúng ta thấy Kitô giáo, dưới ánh sáng của Tin mừng, có thể mang đến sự ảnh hưởng tích cực để định hình một xã hội công bằng hơn. Với sự trỗi dậy của công nghiệp hóa trong suốt thế kỷ XIX và những hậu quả nổi tiếng của nó - sự bóc lột lao động, bao gồm cả lao động trẻ em, di cư từ nông thôn ra ngoại ô thành phố, sự tan vỡ của gia đình và cộng đồng, và sự phá vỡ các cấu trúc xã hội - chính Đức Giáo hoàng Lêô XIII, vào năm 1891, với Thông điệp Rerum Novarum, đã xây dựng một học thuyết Công giáo cũng liên quan đến cấu trúc xã hội. Nhằm mục đích đánh thức lương tâm của những người đương thời và giúp vượt qua sự đối lập giai cấp, ngài đã đặt việc sử dụng tài sản dưới sự chi phối của lợi ích chung, đòi hỏi mức lương công bằng cho người lao động, và các điều kiện đặc biệt cho phụ nữ và trẻ em. Ngài cũng lên án cả chủ nghĩa xã hội tập thể và chủ nghĩa tự do cá nhân, một lập trường đã trở thành hằng số bất biến trong quan điểm Công giáo về xã hội, công đoàn Kitô giáo và các sáng kiến như Tuần lễ Xã hội được khởi xướng vào đầu thế kỷ XX. Theo thời gian, những vị kế nhiệm ngài đã điều chỉnh tư tưởng đó cho phù hợp với những biến đổi không ngừng của xã hội và kinh tế, với những thách thức bắt nguồn từ những quá trình thậm chí không thể tưởng tượng nổi. Và các ngài đã làm như vậy với các văn kiện thường được xuất bản vào dịp kỷ niệm các văn kiện trước đó về cùng chủ đề. Ở đây, chúng tôi cố gắng tóm tắt các văn kiện này nhằm tổng kết sự phát triển của Học thuyết Xã hội, sau bước ngoặt của Công đồng Vaticanô II, khi phải đối mặt với những vấn đề xã hội chưa từng có, đan xen với các chiều kích nhân học và thần học.

Đến đây, quy chiếu đầu tiên là Thông điệp Quadragesimo anno của Đức Giáo hoàng Piô XI, được ban hành năm 1931 sau một “cuộc chiến tranh lớn” đã cho thấy sự mâu thuẫn của tiến bộ kỹ thuật. Đức Giáo hoàng Piô XI tiếp tục lên án chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tự do là trái với chân lý Kitô giáo vì sự ưu tiên dành cho chủ nghĩa duy vật; ngài khẳng định nguyên tắc bổ trợ; và tìm cách mở đường cho các giải pháp dựa trên sự tham gia. Đừng quên rằng, trong bối cảnh triều đại giáo hoàng của ngài (với chủ nghĩa toàn trị bị lên án bởi hai thông điệp Divini RedemptorisMit brennender Sorge, năm 1937), việc nâng cao tiếng nói của Giáo hội về vấn đề các quyền bất khả xâm phạm của con người, được đặt ở trung tâm của các thể chế, mà con người luôn là mục đích của chúng. Sự ưu tiên này đã được Đức Giáo hoàng Piô XII tái khẳng định, người tiếp tục suy tư của vị tiền nhiệm bằng cách liên kết nó với các thực tiễn hiện hành của các thể chế kinh tế, chính trị và xã hội, được phân tích dưới ánh sáng của mặc khải và trong khuôn khổ một mô hình kim tự tháp mà Giáo hội vẫn chiếm vị trí đỉnh cao. Đây là một thực tế dần thay đổi sau triều đại của Đức Giáo hoàng Piô XII, trong một tư tưởng mà, bắt đầu từ Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII, tiếp tục đề cập đến mặc khải nhưng chú trọng hơn đến thực tế xã hội và sự đối mặt với những thách thức hiện đại. Quan điểm này được mở ra bởi Công đồng Vaticanô II, một công đồng được công bố vào tháng 1 năm 1959 và khai mạc vào ngày 11 tháng 10 năm 1962, dưới định hướng về việc cập nhật, không phải không có những hệ quả đối với học thuyết xã hội. Ngay trong Thông điệp Mater et Magistra, Thánh Gioan XXIII đã kêu gọi nhận biết “dấu chỉ thời đại,” tức là nhận ra những thay đổi lịch sử, xã hội và văn hóa và đáp lại chúng bằng Tin mừng, thậm chí còn khuyến khích các doanh nghiệp trở thành “những cộng đồng của con người.” Cách tiếp cận này cũng hiện diện trong Thông điệp Pacem in Terris. Một dạng nhân học cá nhân chủ nghĩa được các nghị phụ Công đồng làm rõ hơn trong Hiến chế Gaudium et Spes năm 1965. Và chúng ta đến với triều đại Thánh Giáo hoàng Phaolô VI với Thông điệp Octogesima Adveniens năm 1971, trong đó nêu ra đề xuất cho các Kitô hữu tham gia tích cực vào đời sống xã hội và chính trị, cùng với phân tích các vấn đề cần lời giải đáp: đô thị hóa, sự gạt bỏ, môi trường, bất bình đẳng xã hội. Tuy nhiên, bốn năm trước đó, Thánh Phaolô VI đã đánh dấu một bước ngoặt khác với Thông điệp Populorum Progressio. Ở đây, cái nhìn được soi sáng bởi mặc khải không chỉ đòi hỏi sự khám phá chiều sâu thiêng liêng của thực tại thế giới, mà còn - mở rộng đến những chân trời của hành tinh - đòi hỏi phải giải quyết các nguyên nhân của sự kém phát triển. Với Thánh Phaolô VI, vấn đề xã hội mang một chiều kích toàn cầu trong nhận thức rằng nghèo đói là sản phẩm của những bất công cần được khắc phục thông qua các chiến lược phát triển toàn diện con người. Một lần nữa, điểm mấu chốt vẫn là nhân vị.

Đây là điều rất gần gũi với tâm tư của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, người đã trực tiếp trải nghiệm chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản, và đã dành ba thông điệp cho Học thuyết Xã hội: Laborem exercens (1981), Sollicitudo rei socialis (1987), và Centesimus annus (1991). Thánh Gioan Phaolô II trước hết đề cập đến lao động của con người, sau đó là sự phát triển của các dân tộc, chỉ ra các cơ chế gây ra bất công toàn cầu là “những cơ cấu của tội lỗi,” nhấn mạnh sự hiện diện của nền đạo đức trong thị trường. Ngài nhấn mạnh mối liên hệ giữa Học thuyết Xã hội, nhân quyền, và tự do, diễn đạt bằng các phạm trù luân lý và đặt kinh tế cũng như lao động trong một quan điểm nhân học và thần học, trong đó con người tìm thấy sự viên mãn trong sự hiệp thông với người khác và với Thiên Chúa. Những nhận định của ngài về công lý vượt ngoài phạm vi thị trường, các giới hạn của thị trường, mục đích của các định chế và tinh thần liên đới đều mang ý nghĩa quan trọng. Gắn liền với tư tưởng của Thánh Gioan Phaolô II nhưng sẵn sàng phát triển những hiểu biết của Thánh Phaolô VI trong bối cảnh toàn cầu hóa, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI đề cập đến trọng tâm của mình trong Thông điệp Caritas in Veritate, một thông điệp ra đời giữa cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, nhưng được định hướng bởi niềm tin rằng bác ái, nguyên tắc chủ đạo của học thuyết xã hội, vẫn là động lực chính cho sự phát triển đích thực. Đức Bênêđictô XVI đi đến tận gốc rễ của các vấn đề bằng cách suy ngẫm về chủ nghĩa tương đối và mô hình kỹ trị, nhấn mạnh giá trị của sự cho đi, lòng quảng đại và việc điều chỉnh lối sống. Trên thực tế, Đức Bênêđictô XVI đặt nền tảng lý thuyết cho những tuyên bố tiếp theo về cùng những chủ đề này nhưng có mối liên hệ mật thiết với nhau: sinh thái, di cư, nghèo đói, bất công,…

Sự đánh giá của Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI được tiếp nối bằng ứng dụng thực tiễn do Đức Giáo hoàng Phanxicô đề xuất trong các nguyên tắc của hai thông điệp Laudato si’ (2015) và Fratelli tutti (2020), trong đối thoại với người dân và các phong trào quần chúng, trong lời kêu gọi về các quá trình phân phối lại của cải. Nhưng chúng ta đã chuyển từ lịch sử sang các sự kiện hiện tại: hôm qua với Đức Phanxicô và hôm nay với Đức Giáo hoàng Lêô XIV và Thông điệp Magnifica Humanitas. Và những gì vị Giáo hoàng hiện tại đang làm cho cuộc cách mạng kỹ thuật số và trí tuệ nhân tạo cũng tương tự như những gì Đức Giáo hoàng Lêô XIII đã làm cho cuộc cách mạng công nghiệp. Có nhiều điểm liên tục với các vị tiền nhiệm của ngài, vượt ra ngoài sự chuyển dịch từ “vấn đề lao động” sang “vấn đề thuật toán”: không còn chỉ là tư bản đối với lao động, mà là quyền lực kỹ thuật số đè bẹp nhân loại nếu, thay vì là một công cụ hay đồng minh, nó trở thành một thứ “sấm ngôn,” một dữ liệu thay thế khuôn mặt và không gian cho các mối quan hệ, hoặc thậm chí tước đoạt trách nhiệm của chúng ta. Cốt lõi vẫn là mối quan tâm muôn thuở: nhân loại. Một thông điệp được sinh ra từ một truyền thống lịch sử vĩ đại.

Tác giả: Marco Roncalli - Avvenire (27/5/2026)

Nguồn: giaophanvinhlong.net